Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

Hiệp Cốt Đan Tâm 25 : Năm Tháng Dãi Dầu Đầu Đã Bạc - Trong Người Vẫn Giữ Đóa Kim Thoa


Kim Trục Lưu kêu ối chao một tiếng, kêu lên: "Thuốc độc thật... thật lợi hại?"

Người giãy hai cái liền ngã xuống đất nằm cứng đờ như khúc gỗ Trần Quang Chiếu vừa kinh vừa giận, kêu lớn: "Hà Cô nương, cô ra đây, ta chết cũng phải chết cho rõ ràng!"

Lúc này Trần Quang Chiếu đã đầu váng mắt hoa, chàng gắng gượng đạp hai tấm bình phong ra. Chợt nghe một tiếng cười lạnh vang lên, sau bức bình phong có một người nhảy ra. Trong khoảnh khắc, Trần Quang Chiếu hầu như đứng ngẩn ra, té ra đó chẳng phải là Hà Cô mà là một bà già tóc bạc da mồi.

Trần Quang Chiếu sững người ra, lạc giọng kêu lên: "Nhũ mẫu, té ra là bà!" Bà già ấy cười lạnh lùng: Ai là nhũ mẫu của ngươi? Hừ, tên tiểu tử thối nhà ngươi còn chưa chịu thôi, cóc ghẻ mà muốn ăn thịt thiên nga?" Trần Quang Chiếu kêu lên: "Tôi biết tôi không xứng với tiểu thư nhà bà, nhưng lần này Hà Cô gọi tôi tới, tôi nhất định phải hỏi cho rõ!"

Bà già ấy nhìn Kim Trục Lưu, thấy chàng nằm ở dưới sàn chẳng hề nhúc nhích,

không khỏi mừng ra mặt, lòng thầm nhủ: "Nghe nói Văn Đạo Trang và Sử Bạch Đô đều bại trong tay kẻ này, mình biết hắn rất ghê gớm, cứ tưởng là mình đồng da sắt, té ra chẳng bằng gã Trần Quang Chiếu".

Bà ta tưởng Kim Trục Lưu đã mất mạng vì trúng độc, nên không hề e dè, từng bước áp sát tới Trần Quang Chiếu, "Hì hì!" Cười lạnh lùng: "Chính ta đã gọi ngươi tới! Ta không giả mạo tiểu thư lừa ngươi, nhà ngươi làm sao mắc lừa ta? Bây giờ chắc ngươi đã rõ, ta giải quyết ngươi để tiểu thư khỏi bị ngươi quấy rầy!"

Trần Quang Chiếu muốn phản kháng nhưng tay chân đã bải hoải, mười đầu ngón tay của bà ta sắp chụp vào đầu chàng, Kim Trục Lưu chợt ngồi bật dậy, buông giọng cười: "Thuốc độc của bà tuy lợi hại nhưng không hại nổi ta! Trả lại vật cho chủ!" Lập tức ngón giữa búng ra, một luồng nước từ đầu ngón tay chàng bay vọt tới. Té ra Kim Trục Lưu giả vờ ngất xỉu, nhưng chàng âm thầm vận huyền công đồn trà độc đã uống ra đầu ngón tay, cho nên luồng nước phun ra nóng hôi hổi.

Bà già kinh hoảng, bà ta biết thuốc độc lợi hại, dù trên người có thuốc giải nhưng cũng không thể để nó bắn trúng vào mắt nên vội vàng thi triển công phu Thiết bản kiều, ngửa lưng ra phía sau, hai tay chống xuống sàn tựa như một cây cầu, luồng nước lướt qua mặt bà ta, lúc đó đương nhiên bà ta không tóm được Trần Quang Chiếu. Kim Trục Lưu nhảy vọt lên, kéo Trần Quang Chiếu sang một bên, nhét vào miệng chàng một viên thuốc giục mau: "Đây là bích linh đơn, mau uống!"

Bà già ấy cũng rất ghê gớm, Kim Trục Lưu chỉ chậm lại một nhịp, bà ta đã nhảy bật dậy, quát: "Tên tiểu tử dám bỡn cợt lão nương!" Rồi mười đầu ngón tay xỉa ra, móng tay chợt dài thêm mấy tấc, tựa như mười thanh đao nhỏ xỉa về phía Kim Trục Lưu. Té ra bà ta đã luyện ưng trảo công, có thể dùng móng tay làm vũ khí, bình thường cuộn lại cho nên người khác không thấy mà thôi.

Kim Trục Lưu thi triển Bàn long như bộ, né chiêu trả chiêu. Thiên la bộ pháp của chàng tuy tinh diệu nhưng không thể thi triển trong chiếc thuyền nhỏ, dù cho chàng né tránh nhanh nhạy, chỉ nghe soạt một tiếng, tà áo đã bị bà già ấy xé rách một mảng, bà già được thế dấn tới, tay trái vạch tới, suýt tý nữa đã chạm vào cổ họng của Kim Trục Lưu, Kim Trục Lưu ngửi thấy mùi tanh tưởi.

Kim Trục Lưu cả giận quát: "Hừ, ngươi ỷ độc trảo hại người, ta sẽ bẻ móng tay của ngươi!" Tức thì hai chưởng vỗ tới nặng như búa bổ vào núi, bà già lúc này mới biết chàng lợi hại cho nên hoảng hồn. Kim Trục Lưu đã uống trà độc, mà vẫn có thể bình yên vô sự, bà già nghĩ bụng dù cho có dùng độc trảo đả thương chàng cũng chưa chắc lấy được mạng chàng. Nếu bị chàng đấm cho một quyền thì không xong. Khi còn trẻ bà già này vốn là một nữ ma đầu nổi tiếng trong võ lâm, nhưng nay tuổi đã lớn, tinh lực đã suy yếu nên không dám liều với Kim Trục Lưu.

Song trong khoảnh khắc chỉ nghe tiếng bình bình vang lên, bức bình phong bị xô ngã, ván sàn nứt toác một mảng. Trước quyền phong chưởng thế của Kim Trục Lưu, bà già không thể nào xoay chuyển được nữa!

Bích linh đơn là thuốc quý, tuy không phải là loại thuốc giải độc nhưng cũng có khả năng chống độc. Trần Quang Chiếu uống một viên bích linh đơn thì chất độc đã giảm, tinh thần hơi phần chấn.


Hai ả nha đầu chưa bao giờ thấy trận đánh lợi hại đến thế, hoảng hồn đến nỗi run cầm cập ở trong góc thuyền. Trần Quang Chiếu thắc mắc trong lòng, bước tới định hỏi họ, hai ả nha hoàn cứ tưởng chàng ta muốn bắt cho nên vội vàng kêu lên: "Không liên quan đến chúng tôi!" Trần Quang Chiếu quát lớn: "Ta chỉ muốn hỏi hai người mấy câu" Bà già ấy rít lên: "Ngươi dám nhiều chuyện, ta sẽ xé xác ngươi ra!" Hai ả nha hoàn tuy biết bà già không đánh lại Kim Trục Lưu nhưng cũng sợ bà ta nên không dám lên tiếng. Nhưng họ lại sợ Trần Quang Chiếu bắt họ bức cung, thế là chỉ đành nhảy ùm xuống hồ.


Kim Trục Lưu quát: "Ngươi đúng là ốc chẳng mang nổi mình ốc mà còn dám ra oai!" Dứt tiếng chàng phóng tới trước mặt bà già, vung tay xé rách mảnh áo của bà ta xuống? Bà già dùng một tay che ngực, kêu lên: "Tên tiểu tử thối, ngươi... ngươi thật vô lễ!" Kim Trục Lưu cười lớn: "Ngươi đã lớn tuổi mà còn sợ ta bỡn cợt với ngươi. Hì hì, ta chẳng qua lấy gậy ông đập lưng ông mà thôi. Nếu hôm nay ngươi không nói thực thì đứng trách!"

Kim Trục Lưu miệng vừa nói, tay vẫn đánh gấp, bà già đã luống cuống tay chân.

Trần Quang Chiếu cảm thấy bất nhẫn trong lòng, kêu lên: "Bà ta là nhũ mẫu của Hà

Cô nương, Kim huynh, mong hãy nương tay!" chưa dứt lời, chỉ thấy bà già đột nhiên đứng cứng đờ ra, hai tay ngừng lại chẳng hề nhúc nhích nữa.

Kim Trục Lưu dục: "Lấy thuốc giải cho ta, ta nể mặt Trần đại ca tha cho ngươi".

Bà già đã bị Kim Trục Lưu điểm ma huyệt, chẳng thể động đậy được nữa, nhưng vẫn nói chuyện được: "Ngươi không giải huyệt cho ta, ta làm sao lấy thuốc giải cho ngươi?"

Kim Trục Lưu nói. "Ngươi chỉ cần chỉ ra thuốc giải, không cần phải lấy. Để ta tự lấy là được". Nói xong hai ống tay áo vung lên, tựa như làm trò ảo thuật, một đống đồ từ trong tay áo chui ra, nào là tiền đồng, nào là bạc vụn, lại có cả mấy cái bình, lại còn có hai hộp phấn nho nhỏ. Trần Quang Chiếu trố mắt ra, Kim Trục Lưu cười:

"Đành phải làm kẻ trộm, Trần đại ca đừng cười". Té ra lúc nãy Kim Trục Lưu xé áo của bà ta, đã móc hết những thứ bà ta giấu trên người ra.

Rồi Kim Trục Lưu bày mấy cái bình nhỏ và hộp phấn trước mặt bà già, hỏi:

"Đâu là thuốc giải, dùng thế nào? Ngươi chỉ cần nói là được!"

Bà già ấy trợn tròn mắt:

"Đều là thuốc giải cả".

Kim Trục Lưu hỏi gằn giọng:

"Thuốc giải đâu?"

bà già đáp:

"Không đem theo thuốc giải. Ngươi thả ta, ta sẽ lấy thuốc giải cho ngươi".

Kim Trục Lưu ngẩn người, gằn giọng:

"Ta không tin, ở đây chắc chắn phải có một món là thuốc giải".

Bà già đáp:

"Ta nói toàn là sự thật".

Trần Quang Chiếu nói:

"Được, bà hãy dắt ta đi gặp Hà Cô nương".

Kim Trục Lưu nói:

"Mụ yêu phụ này giỏi gạt người thật, Trần đại ca, huynh đừng tin lời mụ ta. Để tôi cho mụ ta biết lợi hại".

Trần Quang Chiếu không nén được, chặn Kim Trục Lưu can:

"Huynh hãy điểm huyệt đạo, bà ta đã lớn tuổi, cần gì phải làm khó?"

Trần Quang Chiếu có lòng tốt ngăn Kim Trục Lưu, không ngờ bà già ấy lại cười hềnh hệch, Kim Trục Lưu kêu lên: "Không xong!"

Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Kim Trục Lưu vừa kéo Trần Quang Chiếu sang một bên, bà già ấy đã phóng ra một cước đá tất cả bình và hộp xuống hồ rồi lao ầm xuống nước.

Té ra lúc nãy Kim Trục Lưu dùng thủ pháp độc môn điểm huyệt bà già, nhưng chàng không hề ra tay mạnh. Đó cũng là vì chàng nể mặt Trần Quang Chiếu, không ngờ bà ta tuy đã lớn tuổi nhưng công lực chẳng kém gì Kim Trục Lưu. Trong tà phái có một loại công phu làm cho kinh mạch nghịch hành, có thể giải huyệt đạo, lúc nãy bà ta cố ý kéo đông chỉ tây, là vì muốn kéo dài thời gian để thi triển loại kỳ công này.

Chỉ vì một chút lòng từ bi mà đã xảy ra chuyện. Kim Trục Lưu không kịp tấn công, chàng vội vàng cướp lại thuốc giải cho nên cũng nhảy xuống nước. Chàng lớn lên ở miền hải đảo cho nên thủy tính cũng rất khá.

Hồ Đại Minh tuy không phải là nơi biển rộng bao la sóng thét cuồng nộ nhưng cũng chẳng phải là hồ nước ao tù. Kim Trục Lưu lặn xuống dưới đáy, khó khăn lắm mới tìm được một cái hộp, còn những thứ khác thì không biết đã trôi đi đâu.

Kim Trục Lưu nổi lên mặt nước đổi khí, chỉ thấy bà già đã bơi qua bờ bên kia, hai ả nha hoàn đã lên bờ từ lâu. Kim Trục Lưu thầm nhủ: "Không biết trong hộp có phải là thuốc giải hay không, nếu không phải thì có thể tìm mụ yêu bà ấy tính sổ".

Lúc nãy Kim Trục Lưu vừa mới trải qua một trận ác đấu với bà già, ván thuyền đã vỡ nhiều chỗ, gió lùa vào bốn mặt. Gió trên hồ tuy không lớn nhưng vì không có ai cầm đà nên chiếc thuyền cứ xoay mồng mọng ở giữa hồ. Kim Trục Lưu nhớ đến Trần Quang Chiếu, chàng thấy cũng khó tìm lại những thứ đã mất cho nên chỉ đành lên thuyền trước.

Trần Quang Chiếu thấy Kim Trục Lưu ướt sũng nước, bụng áy náy lắm: "Kim huynh, thật vất vả cho huynh. Sống chết có mạng, nếu không tìm được thuốc giải thì đành thôi vậy. Huynh cứ bảo người Cái Bang đưa tôi về nhà, có lẽ cha tôi cũng cứu được tôi". Khi nói thì đã hụt hơi.

Kim Trục Lưu trấn an: "Huynh hãy ngồi tịnh tọa vận công, đừng gấp nói chuyện. Tôi đã tìm được một cái hộp, không biết có phải thuốc giải hay không".


Kim Trục Lưu mở hộp ra nhìn, bất giác kêu ồ một tiếng. Trần Quang Chiếu nén không được hỏi:

"Đây là vật gì?"

Kim Trục Lưu lấy ra một đôi dạ minh châu, Trần Quang Chiếu cười:

"Nhũ mẫu của Hà Cô quả nhiên có nhiều của riêng".

Kim Trục Lưu nói:

"Đôi minh châu này không có gì là lạ, nhưng lại có khắc năm tháng ngày sinh".

Trần Quang Chiếu nói:

"Năm tháng ngày sinh của ai, cho tôi xem thử".

Kim Trục Lưu ngần ngừ trong chốc lát rồi bảo:

" không phải năm tháng ngày sinh của Hà Cô, huynh không cần phải xem".

"Sao huynh biết?"

"Người này sinh năm Bính Dần, tính ra năm nay cũng đã ba mươi lăm tuổi. Còn Hà Cô có lẽ cũng trạc tuổi huynh, đúng không?"

Trần Quang Chiếu hơi thắc mắc, nhủ thầm:

"Xem thì cũng đâu có sao?"

Kim Trục Lưu tựa như đã biết chàng nghĩ gì, cười rằng:

"Huynh không cần nghi hoặc, tôi muốn huynh chuyên tâm vận công chống độc. Cái hộp này có một câu đố, chỉ cần bắt được mụ yêu bà ấy thì có thể giải được câu đố này, chúng ta không cần phải nhọc lòng".

Trần Quang Chiếu nghĩ cũng đúng, chuyện đêm nay cứ như một câu đố, có quá nhiều điều khó hiểu. "Cũng mong mình có thể gặp lại Hà Cô, lúc đó sẽ biết mọi chuyện". Trần Quang Chiếu nghĩ bụng, thế là chàng yên lòng vận công. Thật ra đây chính là tờ giấy ghi bát tự (năm tháng ngày giờ sinh) của một người nam dùng để hợp hôn, người nam này chẳng phải ai khác, đó chính là bang chủ của

Lục Hợp bang Sử Bạch Đô.

Tờ giấy ghi rõ ràng là "càn tạo Dương Châu Sử Bạch Đô". Sau đó mới ghi rõ năm tháng ngày giờ sinh. Phát hiện tờ giấy này trên mình bà già, đương nhiên là bà ta làm mai. Kim Trục Lưu thầm nhủ: "Mụ yêu bà này là nhũ mẫu của Hà Cô, ôi chao không xong, phía nữ chắc chắn là Hà Cô. Mụ yêu bà làm mai cho nàng ta. Chả trách nào muốn hại Trần đại ca. Tạm thời đừng để Trần đại ca biết chuyện này".

Kim Trục Lưu cầm bánh lái, chàng đã quen lái thuyền trong sóng to gió lớn, cho nên chiếc thuyền chạy về phía trước băng băng. Không bao lâu sau thì đã đến bờ.

Kim Trục Lưu đỡ Trần Quang Chiếu lên thuyền, lòng thầm nhủ: "Nguyên khí của mụ yêu bà đã tổn thương, chắc mụ ta vẫn chưa đi xa được".

Chàng ngưng thần định khí, lắng nghe thử có tiếng bước chân hay không. Chàng chợt nghe gốc dương liễu bên cạnh không có gió mà lá tự rơi.

Kim Trục Lưu quát:

"Ngươi còn trốn đi đâu?" nói chưa đứt lời, chỉ nghe vù một tiếng, một cây thiết trượng to như miệng bát đã bổ xuống đầu Kim Trục Lưu. Kim Trục Lưu rút soạt thanh kiếm, đánh ra một chiêu Cử hỏa thiêu thiên, bạt cây trượng ấy ra, khi định thần nhìn lại thì thấy người đánh lén chàng không phải bà già ấy mà là Bành Cự Vinh.

Bành Cự Vinh chúm môi huýt một tiếng sáo, phục binh trong bụi liễu nhảy vọt ra lố nhố. Bành Cự Vinh cười ha hả:

"Thiên đường có lối ngươi không đi, địa ngục không cửa ngươi lại vào. Tiểu tử họ Kim, coi ngươi còn chạy được đi đâu?"

Kim Trục Lưu cười lạnh lẽo:

"Ngươi là bại tướng dưới tay ta còn dám phách lối?" Miệng vừa nói, kiếm đã đánh soạt soạt ra ba nhát, khiến cho Bành Cự Vinh luống cuống chân tay.

Bành Cự Vinh là đệ tử của phái Thiếu Lâm, công lực chẳng kém gì Kim Trục Lưu nhưng không ứng phó nổi khoái kiếm của chàng. Kim Trục Lưu dùng loại kiếm pháp nhanh như điện chớp đánh lùi Bành Cự Vinh, miệng gọi:

"Trần đại ca, theo sát tôi!" Rồi đánh ra một chiêu Dạ kiếm bát phương, kiếm quang mở ra bốn mặt, lập tức kéo Trần Quang Chiếu nhảy vọt ra.

Chợt thấy một ngọn đằng xà bản đâm tới, kình phong lướt vào mặt. Kim Trục Lưu lật tay đánh ra một kiếm, sử dụng một chiêu Hoành vân đoạn phong chém tới.

Chiêu này có thể chém gãy cả gậy của người ấy, nhưng người ấy cũng rất khôn khéo, y đẩy lệch cây gậy của mình sang một bên, đột nhiên biến thành một chiêu Tà quái đơn tiên đập ngược lại chuôi kiếm của Kim Trục Lưu.

Gậy dài mà kiếm thì ngắn, Kim Trục Lưu suýt nữa đã lâm vào thế hạ phong, may mà kiếm pháp của chàng đã đến cảnh giới có thể thu phát tùy tâm, nên chiêu số chưa dứt thì đã cuộn tròn trở lại, đánh ra một chiêu Trường hà lạc nhật, thanh kiếm vẽ thành một hình vòng cung, lập tức chuyển khách làm chủ, không những phá được chiêu số của người ấy mà còn chém ngược vào đầu gối của y.

Ngay lúc này, một người nhảy ra, người ấy chưa nhảy tới thì ngọn liên tử chùy trong tay đã phóng ra. Liên tử chùy có thể đánh ra hơn một trượng, chỉ nghe keng một tiếng, cây trường kiếm của Kim Trục Lưu đã bị y đánh bật ra, lửa bắn tung tóe. Kim Trục Lưu tuy chưa thua nhưng cũng giật mình: "Liên Thành Hổ đã bỏ đi, không ngờ nhà họ Tào lại có thêm hai người giỏi, mình không thể khinh địch!"

Hai người này đã trám vào chỗ của Liên Thành Hổ. Người sử dụng cây đằng long bản tên là Điền Tuấn. Người sử dụng liên tử chùy chính là Ngụy Kỳ, hai người đều là đại đạo độc cước trên giang hồ, không lâu trước đây đã gây ra một vụ án lớn.

Bọn chúng đến nhà họ Tào một là vì nể mặt Bành Cự vinh, hai là vì muốn nấp bóng Tào Chấn Dung để tránh sóng gió.

Bà già kia và nhà họ Tào đã cấu kết với nhau, bà ta dụ hai người Kim, Trần xuống hồ, âm thầm hạ độc, lại còn sợ nếu họ không chết vì độc cho nên gọi người của nhà họ Tào nấp trên bờ. Tưởng rằng sau khi họ trúng độc thì dù có chạy thoát lên bờ cũng không thể chống nổi. Nào ngờ bọn chúng cũng chẳng làm gì được chàng.


Nhưng hai người này xuất thân từ đại đạo trên giang hồ, lâu nay quen tánh hung hãn, tuy trong bụng thất kinh nhưng vẫn không chịu ngừng tay. Ngụy Kỳ dùng ngọn liên tử chùy đánh bật thanh trường kiếm của Kim Trục Lưu ra, Điền Tuấn lập tức nhảy bổ tới Kim Trục Lưu cả giận, đang định thi triển đòn sát thủ, chợt nghe sau lưng có tiếng vù vù, cây thiếc trượng của Bành Cự Vinh lại đánh tới.


Phục ma trượng pháp của phái Thiếu Lâm rất uy mãnh, nếu một địch một, Kim Trục Lưu có thể dùng khoái kiếm khắc chế y, nhưng lúc này lại có thêm hai người Điền, Ngụy, một đánh ba không chột cũng què.


Trong lúc kịch chiến Điền Tuấn sử dụng một chiêu Đằng xà miên thụ, quét ngang tới ngay eo. Đằng long bản là loại binh khí vừa mềm vừa cứng, nếu bị cuốn trúng chẳng phải chuyện chơi, Kim Trục Lưu cúi người đâm kiếm tới, né tránh cây đằng long bản bạt ngọn liên tử chùy ra, thanh trường kiếm gạt keng một tiếng, đè cây thiếc trượng của Bành Cự Vinh xuống.


Kim Trục Lưu đánh ra một chiêu ba thức, phá giải ba đòn tấn công của ba món binh khí khác nhau, nhưng rốt cuộc chàng vẫn chỉ có một đôi tay, không thể nào phân thân được cho nên không lo nổi cho Trần Quang Chiếu.


Trần Quang Chiếu móc ra Băng phách thần đạn, quát một tiếng "Đánh!" rồi ném về phía ba hán tử đang xông tới, cả ba cảm thấy khí lạnh dồn tới, toàn thân run


rẩy, Kim Trục Lưu xoay người lại đánh ra một đường Tảo đường thoái, đá bật ba hán tử này ra xa đến mấy trượng.


Nhưng Trần Quang Chiếu đã trúng độc, nội lực giảm rất nhiều, chàng phóng Băng phách thần đạn ra xong thì cũng không khỏi hoảng hốt, tuy chưa bất tỉnh nhưng cũng đã run lên bần bật.


Hai người Điền, Ngụy thấy thế liền vòng ra sau lưng quát: "Hảo tiểu tử, nằm xuống!" Lập tức cây đằng long bản quét tới Trần Quang Chiếu.

Trần Quang Chiếu chỉ đành rút băng phách hàn quang kiếm chống đỡ, chỉ nghe keng một tiếng, cây hàn quang kiếm vụt khỏi tay. Điền Tuấn cả mừng, giơ bản đánh xuống. Nếu Trần Quang Chiếu trúng gậy này, không chết cũng bị trọng thương. Điền Tuấn chợt rùng mình, tay hơi rung cho nên cây gậy lệch sang một bên. Té ra cây đằng long bản của y chạm phải băng phách hàn quang kiếm, khí lạnh truyền vào lòng bàn tay y, lúc này mới bắt đầu phát tác.

Kim Trục Lưu phóng vọt người lên, chụp cây băng phách hàn quang kiếm, nói lớn: "Đại ca, mượn kiếm của huynh". Rồi hai kiếm chợt triển khai, trong vòng mấy trượng vuông đều có khí lạnh bao trùm khiến cho bọn Bành Cự Vinh không dám đến sát tới.

Nhưng cả ba tên này đều là cao thủ trên giang hồ, tuy lạnh đến nổi da gà nhưng vẫn còn chịu nổi, không áp sát tới được nhưng cũng không chịu lui. Gia đinh của nhà họ Tào không dám tiến vào, đứng từ xa bao vây họ, Bành Cự Vinh quát: "Phóng tiễn bắn tên tiểu tử họ Trần!" Trần Quang Chiếu đứng sau lưng Kim Trục Lưu, chàng đã gắng gượng nhưng không theo nổi Kim Trục Lưu. Gia đinh nhà họ Tào phóng tên về phía Trần Quang Chiếu. Bọn Bành Cự Vinh vội vàng tránh xa ba trượng để khỏi bị trúng tên

Hiệp Cốt Đan Tâm 24 : Huyền Cơ Diệu Ngữ Khôn Thấu Hiểu - Mộng Cũ Khó Quên Lầm Mắc Mưu

Kim Trục Lưu nghĩ bụng: "Lệ Thắng Nam hy sinh bản thân để cho cha mẹ mình đến với nhau, mình có nên hy sinh bản thân để giúp đại ca hay không?

Nhưng Lệ cô nương từ lâu đã biết cha và mẹ mình yêu thương nhau, nhưng mình lại không biết Hồng Anh có thật sự yêu thương đại ca hay không. Mình hy sinh bản thân thì không sao, nếu sau này đại ca biết, chẳng phải sẽ u uất suốt đời hay sao?" Kim Trục Lưu lại nghĩ: "Nhưng nếu đại ca cũng đóng vai trò của Lệ tiền bối, suốt đời mình cũng chẳng vui. Hỡi ơi, chả lẽ bi lịch đời trước lại sắp diễn ra?"

Nghĩ đến đây, Kim Trục Lưu chợt cảm thấy Lệ Thắng Nam si tình như thế thì tựa như không đúng lắm. Nhưng chàng không thể nói được chỗ nào không ổn.

Giang Hải Thiên kể xong chuyện này, Trần Quang Chiếu cũng ngẩn người ra, mặt lộ vẻ thẫn thờ.

Kim Trục Lưu chợt nghĩ: "Ồ, hình như Trần đại ca cũng có tâm sự gì?"

Không Chiếu đại sư chợt chắp tay: "Lành thay, lành thay! Rơi vào lưới tình, muộn phiền suốt đời. Một người có tuệ căn như Kim đại hiệp mà cũng không khỏi khổ não hai mươi năm".

Trần Quang Chiếu hỏi: "Vậy có cách nào giải trừ phiền não? Giả sử nói, lòng lặng như nước, biển tình không sóng thì thế nào?"

Không Chiếu đại sư nói: "Từ xưa đến nay có mấy ai có thể quên tình? Huống chi tình nghiệt là một trong vô số các nghiệt chướng mà người ta phải chịu, như tham, sân, si đều là tâm ma, tâm ma không trừ thì suốt đời rơi vào nghiệt chướng!"

Giang Hải Thiên cười bảo: "Hiếm có dịp đại sư rảnh rỗi giảng giải Phật pháp cho chúng ta nghe".

Trần Quang Chiếu đáp: "Nói thế thì người ta không thể nào giải trừ được phiền não?"

Không Chiếu đại sư hỏi: "Không phải, muốn trừ phiền não thì phải có một cây chổi bằng sắt".

Trần Quang Chiếu nói: "Biết tìm cây chổi bằng sắt ở đâu?" Không Chiếu đại sư nói: "Sách kinh dạy rằng, nếu con người muốn đạt đến cảnh giới thức vật cần phải giữ cho lòng trong sáng trống rỗng. Con người từ khi sinh ra bị bụi phiền não che mờ, cần phải có một cây chổi sắt quét phiền não từ tâm của mình. Quét sạch hết phiền não thì gọi là tự tịnh kỳ ý. Vậy cây chổi sắt ấy là gì? Đó tức là chỉ quán". (Chú thích: Đoạn kinh văn này dẫn theo "Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp chiếu" của Ngọc Tịnh pháp sư).

Mẹ của Kim Trục Lưu là truyền nhân của Lã Tứ Nương, tinh thông Phật pháp cho nên Kim Trục Lưu cũng đọc qua sách kinh, biết "chỉ" và "quan" là hai danh từ trong kinh Phật, nhưng không biết ý nghĩa của nó vì thế hỏi: "Chỉ quán là gì?Không Chiếu đại sư nói: "Tôi sẽ nói từ gốc. Không làm điều ác, chỉ làm điều thiện thì sẽ giữ lòng sạch sẽ, đó là lời Phật dạy. Mà không làm điều ác chính là "chỉ". Làm điều thiện chính là "quán". Mà làm mười điều thiện như không sát sinh không trộm cắp là "chỉ". Không những không sát sinh mà còn làm nhiều điều thiện như phóng sinh gọi là "quán". Cho nên "chỉ" là bước đầu, "quan" là chính yếu".

Trần Quang Chiếu ngơ ngẩn gật đầu. Kim Trục Lưu nói: "Xin hỏi đại sư, ‘chỉ’ có phải là phòng ngừa tiêu cực, còn ‘quán’ là hành động tích cực, kết là phiền não kết thành, ‘chỉ’ không thể ngăn chặn phiền não, giống như lấy đá đè cỏ. Sách kinh dạy, ‘chỉ’ chỉ là bước đầu, ‘quan’ chính là chính quán tuệ chiếu. Vung tuệ kiếm chém tâm ma, tựa như lấy dao cắt đứt cả gốc rễ của cỏ, mãi mãi không mọc nữa. Kinh xưa viết, ‘quán’ là công cụ chặt đứt mê hoặc".

Không Chiếu đại sư chắp tay khen rằng: "Lành thay, lành thay, cư sĩ có tuệ căn lắm. Bản thân con người vốn không có phiền não, cũng không có sống chết. Mê ngộ vốn là không, tu chính như ảo mộng. Như hạt ma ni vốn là tròn trịa. Nếu bị rơi xuống bùn hoặc bị bụi che phủ sẽ mờ đi. Nay muốn hạt châu sáng láng, cần phải tẩy rửa, cho nên Lục Tổ có nói rằng, tâm người vốn tự thanh tịnh. Tâm người vốn tự sáng láng. Đó chính là ý nghĩa này!"

Giang Hải Thiên nói: "Xin hỏi đại sư lúc nãy đại sư nói không những không được sát sinh mà phải phóng sinh tức là hành thiện, còn gọi là ‘quán’. Nhưng trong thiên hạ có những người không thể không giết, cả đời tôi đã giết không ít người, Phật pháp có thể dung người như tôi không?"

Không Chiếu đại sư cười bảo: "Trừ ác tức là hành thiện, Giang đại hiệp giết là giết người xấu, chính hợp ý trảm ma trừ yêu của Phật tổ ta". Giang Hải Thiên cười ha hả: "Vậy thì tôi đã yên tâm!"

Giang Hải Thiên không nghiên cứu kinh Phật, nghe thấy cũng hơi chán. Kim Trục Lưu nghe Không Chiếu đại sư giảng vài đoạn kinh, lòng mới ngộ ra: "Không Chiếu đại sư nói phải lắm, mình phải có một cây chổi sắt quét tất cả mọi phiền não trong lòng, tự mình làm sạch cõi lòng mình tự nhiên sẽ sáng, phiền não làm sao sinh ra? Phiền não của mình chẳng qua là vì không thể quên Sử Hồng Anh mà ra, nếu mình không hề coi Sử Hồng Anh là nữ tử, lúc đó nàng cũng giống như Lý đại ca.

Chúng ta đều là bằng hữu chí đồng đạo hợp, không có tạp niệm lòng riêng, không có nam và nữ, sau này dù Hồng Anh có kết hôn với ai cũng là điều bình thường, thậm chí nếu nàng lấy một người thứ ba nào khác, chúng ta chẳng phải vẫn có thể vui vẻ hay sao? Kim Trục Lưu nghĩ thông thì chẳng còn phiền não, cho nên đã vượt qua tình cảm nam nữ hơn hẳn Lệ Thắng Nam năm xưa.

Lúc này đằng đông trời đã sáng. Giang Hải Thiên nói: "Lần này tôi từ Tây Xương đến, tôi cũng đã gặp Trúc Thượng Phụ. Thương thế của ông ta đã đỡ, đang liên hợp hành động cùng với nghĩa quân ở Tiểu Kim Xuyên để lấy lại Tây Xương. Nay ở phía Tiểu Kim Xuyên đã có Mộ Hoa giúp đỡ. Còn ở phía Tây Xương thì thiếu người. Tôi định ba ngày sau đến Tây Xương giúp cho Trúc Thượng Phụ, sư đệ, đệ có còn chuyện gì ở Bắc Kinh?"

Kim Trục Lưu thưa: "Không còn gì nữa, nhưng có thể đệ sẽ đến Dương Châu".

Giang Hải Thiên bật kêu: "Ồ, đệ đến Dương Châu, hình như Dương Châu là tổng đà của tục Hợp bang?" Kim Trục Lưu đáp: "Đúng thế, đệ định đến tổng đà của Lục Hợp bang".

Giang Hải Thiên hỏi: "Đệ có xích mích với Sử Bạch Đô?"

Kim Trục Lưu đáp: "Đúng thế, nhưng lần này đến Dương Châu không phải quyết đấu với y".

Giang Hải Thiên thở phào: "Bản lĩnh của Sử Bạch Đô tuy chưa đến mức đăng phong tạo cực, nhưng ngoại trừ vài bậc tiền bối trong võ lâm, nhưng trên giang hồ y cũng thuộc hạng số một số hai. Bốn đại hương chủ dưới trướng của y cũng chẳng phải là hạng tầm thường, nếu một mình đệ đến gặp Sử Bạch Đô, ta quả thực không yên tâm. Đệ có xích mích gì với y thế?"

Kim Trục Lưu nói: "Đệ đã đánh cắp lễ vật của y tặng cho Tát Phúc Đỉnh, lại còn giao thủ với y hai lần, may mà vẫn không sao". Mối hiềm khích giữa Sử Bạch Đô và Kim Trục Lưu thực ra cũng do Sử Hồng Anh mà ra, Kim Trục Lưu không muốn gộp chung mình với Sử Hồng Anh cho nên không kể rõ đầu đuôi.

Giang Hải Thiên cười rằng: "Sư đệ, đệ cũng quá nghịch ngợm, lần này đệ bỡn cợt Sử Bạch Đô, y làm sao có thể bỏ qua cho đệ, chỉ e đệ không đến tìm y thì y cũng tìm đệ tính sổ. Đệ đến Dương Châu nhưng đó là địa bàn của y!"

Kim Trục Lưu nói: "Đệ cũng không sợ, nếu không đánh lại bọn chúng đệ sẽ chạy!"

Giang Hải Thiên hỏi: "Vậy đệ đến Dương Châu là vì chuyện gì?"

Kim Trục Lưu đáp: "Sử Bạch Đô hẹn Lệ đại ca đến tổng đà của y, ý đồ không rõ ràng, đệ không yên tâm cho nên cũng muốn đi xem thử".

Giang Hải Thiên: "Ồ, té ra đệ muốn âm thầm làm bảo tiêu cho Lệ Nam Tinh".

Kim Trục Lưu: "Đệ định giấu mặt để tùy cơ hành sự. Nếu Sử Bạch Đô gây bất lợi cho Lệ đại ca, nói không chừng đệ cũng chỉ đành ra tay".

Giang Hải Thiên: "Một gã như Sử Bạch Đô thì làm sao có lòng tốt được? Nhưng người bằng hữu mà hông bị cắm hai đao cũng là chuyện nên làm. Huống chi đệ và Lý Nam Tinh là huynh đệ kết bái. Ta không cẩn đệ, nhưng đệ phải nhớ: Đừng kiêu ngạovà nóng vội, chuyện gì cũng phải cẩn thận. Đánh được thì đánh, không đánh được thì chạy".

Kim Trục Lưu thưa: "Đa tạ sư huynh dạy bảo. Đệ đi đây"

Trần Quang Chiếu trợn mắt: "Kim huynh, tôi đi cùng huynh".

Kim Trục Lưu khựng người lại: "Huynh cũng đi?" Chàng và Trần Quang Chiếu tuy có mối liên quan từ trước với nhau, nhưng cũng chỉ là bằng hữu mới quen, lần này chàng đi là vì chuyện của Lệ Nam Tinh với Sử Hồng Anh, cho nên không muốn Trần Quang Chiếu dự vào chuyện này.

Trần Quang Chiếu vội nói: "Tôi cũng có xích mích với Lục Hợp bang, Viên Hải đã bị tôi đâm một kiếm, tôi cũng bị trúng ám khí của y".

Kim Trục Lưu gật đầu: "Tôi cũng nghe Trần thúc thúc nói chuyện này. Huynh muốn tìm Viên Hải trả thù? Viên Hải cũng không khó đối phó, nhưng y hiện ở tổng đà của Lục Hợp bang, chúng ta không thể đánh cỏ động rắn. Ngoại trừ bất đắc dĩ, nếu có thể tránh được thì chúng ta cứ tránh. Trần huynh, chi bằng huynh cứ đợi thời cơ cũng không muộn".

Trần Quang Chiếu trả lời: "Tôi không phải nhất định trả thù. Lệ đại ca và huynh là huynh đệ kết nghĩa, cũng là bằng hữu của tôi. Giang đại hiệp nói phải, người bằng hữu mà hông bị cắm hai đao là chuyện chúng ta nên làm. Nếu Lệ đại ca gặp chuyện gì ở Dương Châu, tôi tuy không giỏi nhưng cũng muốn ra giúp sức!"

Giang Hải Thiên trầm ngâm một lúc, rồi nói: "Thiếu hiệp đi cũng được. Dương Châu cách quê nhà của thiếu hiệp khoảng ba ngày đường, thiếu hiệp có thể quay về nhà. Lệnh tôn là lãnh tụ võ lâm miền Giang Nam, lần này các người đến Dương Châu nếu được lệnh tôn âm thầm giúp đỡ thì dù có khó khăn cũng có thể giải quyết được".

Trần Quang Chiếu đáp: "Tôi chuẩn bị đến Dương Châu trước, khi quay lại thì vòng qua nhà một chuyến. Nếu xảy ra chuyện ở Dương Châu sẽ nhờ Cái Bang báo tin cho cha mẹ tôi cũng rất dễ!"

Giang Hải Thiên cười: "Các người nhiệt tình vì chuyện của bạn bè. Được, cứ sắp xếp như thế sẽ chu đáo hơn. Các người hãy đi thôi".

Lúc đầu Kim Trục Lưu không muốn để Trần Quang Chiếu đi cùng, sau mới thấy chàng nhiệt tình, sư huynh cũng đồng ý cho nên Kim Trục Lưu không thể phản đối được nữa.

Hai người Kim, Trần tuổi tác ngang nhau, người trẻ tuổi rất dễ thân thiện với nhau, huống chi đời trước của họ đã kết giao với nhau, nên sau khi biết nhau thì mau chóng thân thiết.

Hai người đi trên đường nói chuyện rất hợp. Nhắc tới việc Lệ Nam Tinh đến gặp Sử Bạch Đô, Trần Quang Chiếu chợt cười: "Sử Bạch Đô và các người có xích mích với nhau, Lệ đại ca chấp nhận đến gặp y, theo tôi thấy e rằng không e là vì Sử Bạch Đô mà là vì em gái của y?"

Kim Trục Lưu ngẩn người ra: "Lệ đại ca cũng nói với huynh à?"

Trần Quang Chiếu nói: "Y không nói gì với tôi cả nhưng tôi đã đoán được. Hôm đó sau khi y bị thương bất tỉnh, suốt đêm cứ lăn qua trở lại, cứ gọi tên của huynh và Sử cô nương".

Kim Trục Lưu nghe xong nhủ thầm: "Té ra đại ca coi mình và Hồng Anh như nhau. Trong lúc thần trí mơ hồ mà cũng không quên mình!" Chàng càng cảm kích hơn tấm lòng của Lệ Nam Tinh.

Trần Quang Chiếu nói: "Lệ đại ca cứ luôn miệng khen Sử cô nương, cho nên y tuy chưa nói nhưng tôi có thể đoán ra giữa họ có tình cảm với nhau. Lần này Lệ đại ca đến Dương Châu cũng là vì nàng ta, không biết tôi đoán có đúng không? Sử cô nương có tốt như Lệ đại ca nói không?"

Kim Trục Lưu đáp: "Sử cô nương quả thực là nữ trung hào kiệt, huynh đoán rất đúng, lần này e rằng Lệ đại ca đến là vì hôn sự".

Trần Quang Chiếu nói: "Ồ, té ra là thế. Nhưng tôi lại không yên tâm lắm. Sử Bạch Đô đang muốn đi theo triều đình, có lẽ nào y gả em gái của mình cho một kẻ đối địch với triều đình? Ồ, tôi lo Lệ đại ca sẽ mắc lừa!"

Kim Trục Lưu đáp: "Lệ đại ca cũng nghĩ như thế".

Trần Quang Chiếu hỏi: "Vậy tại sao y còn đi?"

Kim Trục Lưu đáp: "Vì tình cảm thì dù trước mặt có núi đao biển lửa cũng phải đi".

Trần Quang Chiếu thở dài: "Không Chiếu đại sư nói phải, từ xưa đến nay có mấy người có thể quên được tình cảm? Không Chiếu đại sư là bậc cao tăng đắc đạo còn nói như thế, hạng phạm phu tục tử chúng ta muốn phá cửa ải tình thì đâu có dễ? Nói ra cũng không thể trách được Lệ dại ca!"

Kim Trục Lưu thầm nhủ: "Chả lẽ y cũng phiền não vì tình cảm?" Vì thế hỏi: "Trần đại ca, huynh cũng có ý trung nhân ư?"

Trần Quang Chiếu nói: "Thật không dám giấu, tôi cũng quen biết một cô nương, chúng tôi đã có một mối giao tình không tầm thường, nhưng chuyện này đã sớm trở thành quá khứ, thôi đừng nhắc nữa". Rồi vẻ mặt rất buồn bã, chàng cao giọng ngâm rằng: "Lá vàng không gió mà tự rơi, trời thu không mưa mà ảm đạm. Nếu trời có tình trời cũng già, lòng ta không khỏi mãi ưu phiền. Buồn vui rầu rĩ như giấc mộng, tỉnh lại chẳng biết đi về đâu?"

Kim Trục Lưu thầm xót xa trong lòng, miễn cưỡng thì thầm: "Vậy chúng ta nên tìm một cây chổi sắt". Trần Quang Chiếu cười khổ sở: "Tuy Không Chiếu đại sư giảng cho chúng ta nghe Phật pháp đại thừa, nhưng đáng tiết tôi ngu ngốc, khó tìm tuệ kiếm" Kim Trục Lưu nói: "Mộng cũ bụi trần khó quét sạch, lòng này như nước chảy về đông. Nếu đã thành quá khứ thì thôi vậy. Đừng nhắc chuyện phiền não nữa, chúng ta hãy nói chuyện thú vị". Trần Quang Chiếu buồn bã chép miệng: "Chỉ có thể nghĩ như thế".

Trần Quang Chiếu rầu rĩ, Kim Trục Lưu cũng có tâm sự. Kim Trục Lưu không hỏi nữa, Trần Quang Chiếu cũng chẳng nhắc. Hai người đổi sang chuyện khác.

Hai người ngày đêm lên đường, từ Bắc Kinh xuống miền nam, hôm nay đã đến Tế Nam, mặt trời văn chưa xuống núi, vốn vẫn có thể đi được một đoạn nữa, Kim Trục Lưu bảo: "Xin ở nhờ nhà dân không tiện, chi bằng chúng ta đêm nay cứ ở trong thành. Trên khắp quãng đường chúng ta không gặp tông tích của Lệ đại ca, không biết y đi theo đường nào? Nhưng nếu chúng ta cứ mãi lên đường, không chừng đã vượt qua y".

Trần Quang Chiếu nói: "Tế Nam có phân đà của Cái Bang, huynh có quen đà chủ Vương Thái không?"

Kim Trục Lưu đáp: "Trong ngày Giang sư huynh gả con, Vương Thái cũng đến uống rượu mừng. Tôi và y tuy chưa nói chuyện, nhưng gặp mặt thì sẽ nhận ra. Ý của huynh là muốn đến phân đà Cái Bang tá túc?"

Trần Quang Chiếu cười nói: "Tôi sợ đến phân đà của Cái Bang thì họ coi chúng ta là quý khách, lúc đó sẽ mất tự do. Tôi muốn thông báo tin tức cho Cái Bang, ở Dương Châu Cái Bang cũng có phân đà, họ có bồ câu đưa thư, tôi muốn nhờ họ thông báo cho phân đà Dương Châu để ý tin tức của Lệ đại ca. Như thế nếu chúng ta đến Dương Châu thì sẽ biết Lệ đại ca đã tới hay chưa".

Kim Trục Lưu nói: "Được, cứ để chuyện này cho tôi. Chúng ta tìm khách sạn trước, tôi sẽ đến phân đà Cái Bang rồi trở về. Đêm nay chúng ta có thể đi chơi hồ".

Trần Quang Chiếu cười: "Huynh có lắm nhã hứng thế!" Kim Trục Lưu: "Lần trước tôi chơi Hồ Đại Minh, đến nay vẫn chưa hết hứng. Đêm nay hiếm có dịp quay lại nơi cũ".

Trần Quang Chiếu kêu: "Ồ, chuyện này tôi chưa nghe huynh kể".

Kim Trục Lưu hỏi lại: "Ở Tế Nam có nhà họ Tào làm tể tướng, huynh có biết không?"

Trần Quang Chiếu đáp: "Có phải là đại học sĩ Tào Chấn Dung hay không?"

Kim Trục Lưu: "Đúng thế". Trần Quang Chiếu nói: "Tào Chấn Dung này là một gian thần, y và người Mãn Mục Chương A chia nhau nắm quyền bính, chuyên nịnh bợ hoàng đế Thát Tử, tìm cách áp bức người Hán. Nhưng Tào Chấn Dung làm tể tướng có liên quan gì đến chuyện huynh du ngoạn Hồ Đại Minh?"

Kim Trục Lưu: "Y có một đứa con là tiểu ác bá ở nơi này, lần đó đến Hồ Đại Minh tôi đã gặp hắn".

Trần Quang Chiếu hỏi: "Chuyện như thế nào?"

Kim Trục Lưu liền kể lại mọi chuyện hôm ấy cho Trần Quang Chiếu biết. Rồi chàng bảo: "Nếu lần đó không nhờ Cung Bỉnh Phan giúp đỡ, có lẽ một mình tôi không đối phó được bọn chúng".

Trần Quang Chiếu ngạc nhiên: "Chả lẽ trong số thủ hạ của gã công tử họ Tào ấy có người giỏi?"

Kim Trục Lưu nói: "Hai tên bảo tiêu của y là nhân vật có tiếng tăm. Một người là phản đồ Bành Cự Vinh của chùa Thiếu Lâm, một người là Liên Thành Hổ".

Trần Quang Chiếu lắc đầu chép miệng: "Đáng tiết đáng tiếc. Hai người này không biết tự trọng cam chịu làm ưng khuyển cho hào môn". Kim Trục Lưu nói: "Còncha con người nói sách cũng là nhân vật có tiếng tăm". Trần Quang Chiếu hỏi: "Họ là ai?" Kim Trục Lưu nói: "Đó là Hà Kiện Hùng và con gái của ông ta Hà Thái Phượng. Huynh có nghe danh cha con họ không?" Trần Quang Chiếu ngạc nhiên: "Hà Thái Phượng? Ồ! Nàng ta là vị hôn thê của một vị bằng hữu!" Kim Trục Lưu vui mừng: "Té ra huynh cũng là bằng hữu của Lý Đôn. Huynh có biết tin tức của y không?"

Trần Quang Chiếu đáp: "Ba tháng trước tôi đã từng gặp y, y đã đến Tây Xương theo nghĩa quân".

Hai người vào thành Tế Nam, Kim Trục Lưu tìm đến căn khách sạn mà trước kia chàng đã ở, vừa đến trước cửa chỉ thấy chủ khách sạn bước ra nghênh đón. Kim Trục Lưu cười cười: "Ông nhớ thật dai, vẫn còn nhận ra tôi. Hình như ông biết hôm nay tôi đến, chuyện gì thế?" Ông chủ khách sạn đáp: "Khách quý quay trở lại, tiểu điểm rất hân hạnh. Đây có phải Trần công tử không?"

Kim Trục Lưu ngạc nhiên: "Sao ông biết?" Ông chủ khách sạn đáp: "Đã có người đặt phòng cho hai vị, Kim Trục Lưu ngạc nhiên, hỏi: "Là ai đã đặt phòng cho bọn ta?" Ông chủ khách sạn bảo: "Là một tên tiểu tử. Y vâng lệnh chủ nhân của y đến đặt phòng, y bảo chủ nhân của y là bằng hữu của hai người. Tôi tưởng hai người đã biết từ trước".

Vì khách sạn này nổi tiếng nhất ở Tế Nam. Kim Trực Lưu đã từng tới cho nên lần này chàng mới trở lại không ngờ có người đoán được cho nên đã đặt trước phòng cho chàng khiến cho chàng ngạc nhiên. Kim Trục Lưu thầm nhủ: "Chả lẽ người nhà họ Tào biết hành tung của mình?" Thế rồi vẫn bình tĩnh hỏi: "Tên tiểu tử ấy có nói gì không?"

Ông chủ khách sạn đáp: "Y để lại một cái tráp, hiện vẫn đang ở trong phòng. Mời hai vị vào trước".

Kim Trục Lưu và Trần Quang Chiếu vào trong phòng, quả nhiên thấy trên bàn có một cái tráp Kim Trục Lưu không mở ra xem, kêu lên: "Ồ, té ra là người bằng hữu nhiệt tình này. Được, hãy làm cho chúng tôi vài món".

Chủ khách sạn nói: "Tiền phòng và tiền cơm quý hữu đã trả xong. Tôi đã chuẩn bị một bàn tiệc rượu cho hai vị công tử. Hai vị hãy rửa mặt nghỉ ngơi một lát, tôi sẽ bảo người bưng vào".

Sau khi ông ta ra ngoài, Trần Quang Chiếu đóng cửa lại, nói nhỏ: "Kim huynh, có biết người này là ai không?" Kim Trục Lưu cười đáp: "Chính vì tôi không muốn ông chủ khách sạn nghi ngờ cho nên mới giả vờ là biết. Được, bây giờ chúng ta hãy giải câu đố". Trần Quang Chiếu dặn: "Hãy khoan, e rằng trong tráp có điều gì khác lạ, chúng ta hãy cẩn thận". Kim Trục Lưu cười rằng: "Đúng là huynh có kinh nghiệm hơn tôi. Được, tôi sẽ không đụng vào, mở trước rồi tính tiếp". Chàng liền rút kiếm khỏi vỏ, đứng cách đó mười bước, phóng thanh kiếm ra, chém đứt cái tráp. Trong tráp không có ám khí bay ra, Trần Quang Chiếu mới yên bụng, cười rằng: "Kim huynh, công phu phóng kiếm của huynh rất tuyệt diệu".

Kim Trục Lưu lấy cái thiệp màu đỏ trong tráp ra, chỉ thấy trong thiệp có tám chữ: "Giờ dậu đêm nay, mời gặp ở hồ". Chữ viết trông rất mềm mại, Kim Trục Lưu cười rằng: "Bằng hữu này quả thật có nhã hứng, hình như biết đêm nay tôi sẽ đến chơi hồ". Trần Quang Chiếu tỏ vẻ lo lắng ngắm nghía cái thiệp một hồi rồi nói: "Nhưng không biết tại sao y lại giấu đầu lòi đuôi như thế? Kim huynh, đêm nay chúng ta có đi không?"

Kim Trục Lưu cười đáp: "Đi, sao lại không đi? Người ta đã tiếp đãi chúng ta, chúng ta cũng nên đến gặp chủ nhân chứ". Trần Quang Chiếu hỏi: "Huynh không đề phòng con trai của Tào Chấn Dung ư?"

"Lần trước y đã làm tôi mất hứng, nếu lần này là y, tôi sẽ tìm y tính sổ. Nhưng tôi nghĩ y không có nhã hứng này". Chàng ngừng một lát rồi nói: "Canh ba đêm nay sẽ giải được câu đố, bây giờ chúng ta không cần đoán mò nữa".

Tiểu nhị đã bê rượu thịt vào, có món gà ăn mày nổi tiếng Dương Châu, lại còn có món cá chưng tổ yến. Kim Trục Lưu bảo: "Người bằng hữu này rất khách sáo, coi chúng ta như khách quý. Đến khi gặp y tôi sẽ cảm tạ mới được".

Ăn cơm xong thì trời đã về chiều. Kim Trục Lưu đến phân đà Cái Bang gặp Vương Thái.

Vương Thái biết Kim Trục Lưu là sư đệ của Giang Hải Thiên, nay chàng đến bất ngờ thì vui mừng ra mặt, vội vàng mời Kim Trục Lưu vào nội đường hỏi chuyện. Kim Trục Lưu nói ngay: "Xưa nay Cái Bang của các người đưa tin rất nhanh nhạy, nay tôi đến đây nhờ huynh dò hỏi tin tức của một người". Vương Thái nói: "Kim thiếu hiệp không cần khách sáo, không biết thiểu hiệp muốn dò hỏi tin gì, nếu tôi biết chắc chắn sẽ báo. Kim Trục Lưu: "Thiếu gia nhà họ Tào hiện giờ như thế nào? Hai tên bảo tiêu có còn đi theo y không?"

Vương Thái đã biết chuyện Kim Trục Lưu với con trai của Tào Chấn Dung, cười rằng: "Tào thiếu gia ấy bị huynh đánh một trận, gần cả tháng sau không ra đường được, nay y đã bớt ngang ngược hơn. Liên Thành Hổ bại trong tay của huynh, hổ thẹn rời khỏi nhà họ Tào. Bành Cự Vinh thì vẫn còn ở nhà họ Tào, nhưng cũng ít thấy y xuất hiện trong thành". Kim Trục Lưu hỏi thêm: "Gần đây trong thành Tế Nam có xuất hiện nhân vật giang hồ hành tung bí hiểm nào không?"

Vương Thái ngạc nhiên: "Chín phần mười bằng hữu giang hồ ở nơi khác đếnchúng tôi đều biết. Nhưng không nghe trong thành Tế Nam có người lạ nào cả. Kim thiếu hiệp, người ấy như thế nào?"

Kim Trục Lưu nghĩ bụng: "Người đã tiếp đãi mình chắc không muốn người ngoài biết". Rồi mới nói: "Sư huynh muốn tôi để ý những bậc dị nhân để kết giao bằng hữu. Tế Nam là nơi sầm uất nhất Sơn Đông, bằng hữu giang hồ qua lại đương nhiên không ít, cho nên tôi muốn đò hỏi cho biết".

Vương Thái là người già dặn, biết Kim Trục Lưu có nguyên cớ khác nhưng không muốn nói ra, y cũng không tiện hỏi dấn tới. Vì thế nói: "Mấy ngày nay không có bằng hữu giang hồ nào đến, nhưng cao nhân dị sĩ thì đa số hành tung của họ bí mật, có lẽ chúng tôi cũng không biết. Tôi sẽ bảo người trong bang để ý. Kim thiếu hiệp, lần này huynh đến đây làm gì?"

Kim Trục Lưu nói luôn: "Tôi đến Dương Châu nên mới đi ngang qua đây, có một chuyện muốn nhờ huynh giúp đỡ". Rồi cho Vương Thái biết chuyện Lệ Nam Tinh đến gặp Sử Bạch Đô, nhờ Vương Thái thông báo cho phân đà ở Dương Châu để ý hộ mình. Vương Thái chấp nhận ngay.

Kim Trục Lưu thấy trời đã tối, bèn đứng dậy cáo từ Vương Thái ngỡ ngàng: "Sao Kim thiếu hiệp đi nhanh đến thế? Tôi đã bảo bọn chúng bày tiệc tiếp đãi Kim thiếu hiệp kia mà". Kim Trục Lưu dứt khoát: "Tôi còn có chút chuyện, xin lãnh nhận tấm thịnh tình của đà chủ, ngày sau mới có thể quấy rầy được". Vương Thái không tiện giữ khách, đành nói: "Kim thiếu hiệp đang ở đâu, ngày mai tôi sẽ đến chào hỏi".

Kim Trục Lưu đáp: "Đà chủ không cần khách sáo, sáng sớm ngày mai tôi đã ra đi, khi quay về tôi sẽ đến". Vương Thái thầm nghi ngờ, nhủ rằng: "Y vừa tới là dò hỏi trong thành có dị nhân nào không, nay ngồi chưa ấm chỗ thì đã vội vàng bỏ đi. Xem ra đêm nay có chuyện. Nhưng không biết là chuyện gì, sao lại không chịu cho mình biết?" Vì đó sau khi tiễn khách thì bảo đệ tử trong bang ngầm theo dõi. Đó không phải là y nhiều chuyện mà lo lỡ Kim Trục Lưu xảy ra chuyện gì ở đây thì y không biết ăn nói thế nào với Giang Hải Thiên.

Kim Trục Lưu về đến khách sạn, chỉ thấy Trần Quang Chiếu vẫn đang cầm tấm thiệp, đi qua đi lại trong phòng, vẻ mặt trông rất lo lắng. Kim Trục Lưu bước vào nhòng, chàng mới biết. Kim Trục Lưu cười lớn: "Đừng nhọc lòng suy nghĩ nữa, đêm nay chúng ta sẽ đi giải câu đố". Trần Quang Chiếu chợt nói: "Kim huynh, huynh đi đi. Tiểu đệ..." Kim Trục Lưu ngạc nhiên hỏi: "Sao, huynh không muốn đi?" Trần Quang Chiếu ấp úng: "Y bảo sẽ đợi ở hồ, không có nghĩa là chúng ta cùng đi. Chỉ e người này là bằng hữu của huynh, không hẳn muốn gặp tôi". Kim Trục Lưu: "Vẫn chưa giải câu đố, làm sao biết bằng hữu của huynh hay bằng hữu của tôi? Chúng ta đều được người ta tiếp đãi, chi bằng cứ đi cùng nhau". Trần Quang Chiếu không từ chối được, chỉ đành cùng đi với Kim Trục Lưu. Hồ Đại Minh nằm ở phía nam thành Tế Nam, dưới núi Thiên Phật. Núi non hùng vĩ hồ nước long lanh trông rất nên thơ. Nếu là mùa hè, trên hồ có rất nhiều thuyền hoa. Đây là thời tháng hai mùa xuân, trong đêm gió lạnh se se không có ai đến chơi hồ. Hai người Kim, Trần đến bờ hồ thuê một con thuyền nhỏ chèo về phía chân núi Thiên Phật ở đối diện. Thuyền ra đến giữa hồ, hai người đưa mắt nhìn ra xa, trong hồ vắng lặng chỉ có con thuyền nhỏ của họ.

Kim Trục Lưu ngạc nhiên: "Sao người này hẹn chúng ta mà vẫn không thấy y ra tiếp đón? Chả lẽ y muốn đùa?" Trần Quang Chiếu nói: "Chắc là thế, chúng ta hãy quay về thôi". Kim Trục Lưu cười nhẹ: "Chúng ta vốn đến đây chơi hồ, bằng hữu ấy không đến cũng không làm mất nhã hứng chúng ta". Ngẩng đầu lên nhìn, mặt trăng lên chưa cao lắm, Kim Trục Lưu cười tiếp: "Y hẹn chúng ta giờ dậu, đến giờ vẫn chưa tới". Trong lòng hơi ngạc nhiên: "Trần huynh hình như không muốn đến gặp người này. Chả lẽ y biết người này là ai cho nên không muốn gặp?"

Lần trước Kim Trục Lưu chơi hồ ban ngày, nay quay trở lại vào ban đêm lại thấy phong cảnh khác hẳn. Chỉ thấy mặt hồ lặng như gương, ánh trăng mờ ảo tựa như phủ một lớp vải mỏng lên mặt hồ. Chùa chiền trên núi Thiên Phật in bóng xuống mặt hồ, thuyền lướt nhẹ qua sóng gợn lăn tăn, chốc chốc có cá nhảy vọt lên khỏi mặt nước. Kim Trục Lưu đang say sưa ngắm cảnh, chợt nghe tiếng dầm khua nước, chỉ thấy một con thuyền hoa từ xa lướt ra. Kim Trục Lưu lấy làm lạ: "Có thuyền đến, không biết có phải người ấy hay không?" Rồi đứng trên đầu thuyền, bảo ông lái chèo về phía ấy. Trăng đêm nay rất đẹp, Kim Trục Lưu ngẩng đầu lên nhìn chỉ thấy rèm thuyền vén lên một nửa, trong thuyền thấp thoáng bóng hai thiếu nữ. Kim Trục Lưu ngạc nhiên, lòng thầm nhủ: "Chả lẽ hai thiếu nữ này đã hẹn mình?" Đến khi chàng nhìn kỹ lại thì thấy một người mặc bộ đồ đỏ, một người mặc đồ hồng, đầu bới tóc như nhau, tuổi khoảng mười bảy mười tám. Xem ra tựa như hai ả nha hoàn. Kim Trục Lưu chưa từng gặp họ, lòng thầm ngạc nhiên, nhủ thầm: "Phụ nữ giang hồ tuy không nói lễ tục, nhưng người nữ hẹn người nam là chuyện hiếm có. Chả lẽ đây chỉ là nữ khách chơi hồ!" Nhưng chợt nghĩ lại: "Không đúng, không đúng! Đêm xuân vẫn còn lạnh lẽo, phụ nữ bình thường làm sao chịu nổi cái lạnh ở đây?" Nghĩ chưa dứt chỉ thấy một ả nha hoàn bắt đầu gảy đàn, còn một người kia thì hát theo tiếng đàn: "Hỏi rằng sắc xuân bên hồ, quay lại đã là ba năm. Gió đông thổi ta đến hồ, dương liễu mơn man làn da. Đường đời đến nay đã quen, lòng này vẫn còn mê mải, gió lạnh nước trời liền một dải, chim nước bay rợp trời". Kim Trục Lưu khen rằng: "Hát rất hay, đàn cũng rất hay?" Rồi thầm nhủ: "Đáng tiếc mình không đem theo cây đàn, nếu không mình sẽ hòa cùng nàng một khúc". Phía sau lưng vang lên tiếng thở dài nhỏ, Kim Trục Lưu quay đầu nhìn lại, chỉ thấy Trần Quang Chiếu đứng ngẩn người ra, vẻ mặt rất kỳ quặc, tựa như lo tựa như mừng, lại có mất phần hốt hoảng. Kim Trục Lưu vỗ vai Trần Quang Chiếu, cười rằng: "Trần đại ca, hình như huynh quen họ, có đúng không, họ là ai?"

Trần Quang Chiếu chợt giật mình, thì thầm: "Họ là nha hoàn của Hà Cô". Kim Trục Lưu hỏi: "Hà Cô là ai?" Trần Quang Chiếu đỏ mặt, lúng túng: "Chính là người tôi đã nói với huynh..."

Kim Trục Lưu nói: "Té ra ý trung nhân của huynh hẹn huynh, huynh lại không muốn đến. Ha ha, Trần huynh, huynh đã giấu tôi đến khổ".

Trần Quang Chiếu rất lúng túng: "Lúc đầu tôi cũng không biết. Nét chữ trên thiệp mời rất giống bút tích của nàng, nhưng tôi vẫn không dám đoán chắc. Nàng nói không gặp lại tôi nữa, chúng tôi chia tay nhau đã ba năm". Chàng ta cứ ấp a ấp úng tựa như có lời mà khó nói.

Lúc này hai chiếc thuyền đã tiến gần tới nhau, hương thơm trong chiếc thuyền hoa tỏa ra ngào ngạt bay theo gió, Kim Trục Lưu hít một hơi thì mới biết đó là hương gỗ đàn thượng hạng, cười rằng: "Hà Cô đúng là người tao nhã. Huynh có nghe ả nha hoàn của cô ta mới hất hay không? Hỏi xuân sắc bên hồ, lại là ba năm nữa. Hì hì, lần này tới lượt huynh lên hỏi".

Hai ả nha hoàn đã đứng trước đầu thuyền, không đợi Trần Quang Chiếu hỏi đã nói trước: "Trần công tử, công tử đã tới! Mời công tử cùng quý hữu lên thuyền".

Trần Quang Chiếu ngẩn người, cắn môi không biết là mộng hay thực, thế rồi định thần phóng lên thuyền. Ông lái thuyền sợ Kim Trục Lưu cũng nhảy lên, vội vàng nắm lấy chàng lại hỏi: "Công tử, hai người có cần thuyền này nữa không?"

Kim Trục Lưu giận dữ: "Ngươi sợ bọn ta không trả tiền hay sao? Ngươi buông tay, cho ngươi cái này".

Nói chưa xong thì ả nha hoàn mặc áo đỏ đã vung tay, keng một tiếng, một đỉnh bạc rơi xuống thuyền, nói: "Ngươi hãy quay vào bờ, không cần ngươi đến đón. Nén bạc này đã đủ chưa?" Lúc này Trần Quang Chiếu mới sực nhớ chưa trả tiễn, bất giác đỏ cả mặt.

Ông lái đò cười hớn hở: "Đủ rồi! Đủ rồi!" Rồi buông liền tay, Kim Trục Lưu nhảy vọt qua.

Kim Trục Lưu cười nhẹ: "Một khách không phiền hai chủ, đa tạ tiểu thư nhà cô đã tiếp đãi, tôi được hưởng phước lây với Trần đại ca". Miệng thì cười nói, nhưng trong lòng cũng thầm cười bộ dạng thẫn thờ của Trần Quang Chiếu.

Chiếc thuyền hoa này lớn hơn chiếc thuyền con của họ, hai ả nha đầu vén rèm, gọi bọn họ vào trong khoang ngồi xuống, lúc này Trần Quang Chiếu mới phát hiện có hai tấm bình phong che lại, ngăn khoang ra thành hai phòng. Trần Quang Chiếu biết người chàng ngày nhớ đêm mong ở trong khoang này, toan lên tiếng hỏi nhưng lưỡi cứ cứng đờ. Hai ả nha hoàn rót hai chén trà nóng, người mặc áo đỏ đặt chén trà trước mặt Kim Trục Lưu, mời: "Kim công tử, mời dùng trà. Hiếm có dịp công tử và Trần công tử đến, chúng tôi nghe tiếng đã lâu".

Kim Trục Lưu nói: "Nếu biết ta chỉ là người đi cùng, ta cũng không nên đến.

Nhưng sao các người biết tên của ta?" Ả nha hoàn ấy đáp: "Kim đại hiệp danh chấn giang hồ, chúng tôi tuy không đi lại trên giang hồ nhưng cũng đã sớm nghe tiểu thư nhắc đến tên của ngài. Kim đại hiệp, ngài đừng hiểu nhầm, tiểu thư chúng tôi muốn mời cả hai vị".

Kim Trục Lưu uống chén trà, cười ha hả: "Hay cho ả nha đầu khéo miệng, lần đầu tiên nghe người ta gọi mình là đại hiệp. Hì hì, không giấu gì cô, ta đâu phải là đại hiệp gì, chỉ là một tên trộm". A hoàn mặc áo đỏ xen vào: "Kim đại hiệp đừng nói đùa". Kim Trục Lưu nói: "Trần đại ca thì ngại, nhưng ta phải nói. Tiểu thư nhà cô mời bọn ta đến đây, giờ bọn ta đã đến, trà cũng đã uống nhưng sao vẫn chưa thấy chủ nhân?"

Lúc này sau bức bình phong vọng lại hai tiếng ho, Trần Quang Chiếu cố bưng chén trà, nén không được hỏi: "Tiểu thư không khỏe ư?"

A hoàn mặc áo xanh đáp: "Tiểu thư đang bị nhiễm lạnh, vừa mới ngủ một giấc. Nhưng đã thức dậy. Công tử hãy đợi một lát, tôi sẽ vào mời tiểu thư ra". Trần Quang Chiếu chợt cảm thấy ruột đau như cắt, cả kinh kêu lên: "Hà Cô, cô lấy mạng ta không sao, nhưng sao có thể hại bằng hữu của ta!"
 
Đó chính là: Tình sâu hẹn kín ngày tương hội. Nào ngờ lời ngọt độc tựa đao.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ. 

Hiệp Cốt Đan Tâm 23 : Dưới Bí Ma Nhai Trừ Yêu Nghiệt - Nhờ Nhẫn Bạch Ngọc Hiểu Cố Nhân

Hán tử ấy xoa hai chưởng vào nhau, ở tâm chưởng xuất hiện luồng khí đen, chưởng lực phát ra gió lạnh kêu vù vù. Trần Quang Chiếu đang cầm cây hàn ngọc kiếm, chàng cảm thấy rét buốt hơn.

Té ra hán tử này đã luyện Tu la âm sát công, đó là loại võ công thuần âm của tà phái, Trần Quang Chiếu sử dụng băng đạn và ngọc kiếm, trái lại tăng thêm uy lực cho đối phương.

Lý Nam Tinh thấy Trần Quang Chiếu địch không nổi, cả giận quát: "Ta đã đến đây theo lời hẹn, tại sao các ngươi làm khó bằng hữu của ta? Chuyện này chẳng liên quan gì đến y!" Đang định phóng người tới, lão già họ Dương cười ha hả rồi lắc người chặn trước mặt Lý Nam Tinh, ngăn cản: "Lệ công tử, người đừng vội, trước tiên hãy tiếp một trăm chiêu của ta rồi tính tiếp! Chỉ cần ngươi tiếp được, ta sẽ đưa bằng hữu của ngươi xuống núi!"

Lão già ấy dùng đôi tay không khiêu chiến Lý Nam Tinh, chàng cũng không tiện dùng bảo kiếm, thế là hai chưởng phân ra, chưởng trái đẩy thẳng tới, chưởng phải vuốt ngang, chiêu này có cả thủ pháp điểm huyệt và cầm nã, lợi hại vô cùng. Lão già nếu né tránh đòn điểm huyệt của chàng, thì chắc chắn sẽ bị chưởng lực của chàng đẩy ra.

Lão già khen rằng: "Hay cho một chiêu Tà dương nhất mạt, chiêu này của ngươi cũng đã đủ hơn lệnh tôn năm xưa!" Miệng nói như thế, đơn chưởng vạch thành một đường vòng cung chậm rãi đẩy ra. Lý Nam Tinh thầm cười: "Lão già này thật khoác lác, đáng tiếc ngươi tuy biết chiêu số của ta nhưng không biết cách phá giải như thế nào".

Không ngờ nghĩ chưa đứt thì chợt cảm thấy gió lạnh như mũi tên đâm vào da thịt, cả máu huyết hầu như cũng ngưng tụ. Chiêu này của Lý Nam Tinh vốn là trong chiêu giấu chiêu, trong thức chứa thức, đối phương không hiểu cách phá giải, chàng lập tức có thể dùng thủ pháp đại cầm nã thủ chụp vào huyệt khúc trì của đối phương, nhưng đột nhiên cảm thấy lạnh buốt, cổ tay run rẩy, cho nên cú chụp đã hụt, trái lái suýt tý nữa bị lão già chụp trúng.

Lý Nam Tinh chụp không trúng, chàng biết không xong, vội vàng thi triển công phu Di hình hoán vị trong Thiên la bộ pháp, chỉ nghe soạt một tiếng, tuy tránh qua được nhưng tà áo đã bị lão già xé rách mất một mảnh.

Lão già cười ha hả: "Hảo tiểu tử, có biết lợi hại chưa? Coi thử ngươi tiếp một trăm chiêu của ta như thế nào?" Vừa nói vừa liên tục đánh ra ba chưởng, lập tức cuồng phong cuộn dậy, khí lạnh tỏa ra, đẩy Lý Nam Tinh thối lui từng bước. Té ra Tu la âm sát công của lão già này đã luyện đến tầng thứ tám, lợi hại hơn đồ đệ của lão nhiều.

Lý Nam Tinh cố nén giận, âm thầm vận huyền công, sử dụng Lạc anh chưởng pháp hư hư thực thực, biến hóa khôn lường, du đấu với lão già. Tuy lạnh đến nỗi hai hàm răng đánh vào nhau, hai chưởng cũng không chạm được vào người của lão già, nhưng lão già muốn bắt chàng cũng không được.

Ban đầu lão già muốn đánh chưởng thử nhất, thấy Lý Nam Tinh có vẻ không chịu nổi, tưởng rằng trong vòng vài chiêu chàng sẽ bó tay chịu trói, nay thấy Lý Nam Tinh có thể tránh được không khỏi cảm thấy bất ngờ. Lòng thầm nhủ: "Thật kỳ lạ, chả lẽ nội công của y còn hơn cả cha mẹ của y năm xưa? May mà mình đã hạn trong vòng một trăm chiêu, nếu không mình đã thua mất rồi".

Lão già không biết rằng, té ra Lý Nam Tinh đã được cao nhân chỉ điểm, theo công lực của chàng lúc này mà luận, chưa chắc chàng đã hơn nổi cha mẹ mình, nhưng vì chàng đã luyện tập loại nội công chính tông cho nên mới tinh thuần hơn.

Nhưng Lý Nam Tinh chỉ cũng có thể gắng gượng chống trả mà thôi, một lát sau khí lạnh xâm nhập vào cơ thể, chân tay dần dần chậm chạp, chàng liếc mắt qua nhìn chỉ thấy Trần Quang Chiếu còn tệ hơn cả mình, đã bị hán tử có vẻ mặt bệnh hoạn lúc nãy đánh đến nỗi không thể chống đỡ được. Lý Nam Tinh hít một hơi, thầm nhủ: "Hỏng bét, hỏng bét! Mình bị đánh bại thì không sao, lần này liên lụy đến Trần đại ca!"

Ông già ấy cũng thầm kêu hổ thẹn, té ra hai bên đã đánh gần một trăm chiêu, nhưng Lý Nam Tinh không biết. Ông già gia tăng chưởng lực, thầm nhủ: "Nếu qua một trăm chiêu, tên tiểu tử này không lên tiếng, mình cũng giả vờ không biết".

Lý Nam Tinh một mặt đối phó với kẻ kình địch, một mặt lo lắng cho Trần Quang Chiếu, bất giác chiêu số tán loạn, trong một lúc thất thần đã bị trúng một chưởng của ông già, Lý Nam Tinh lảo đảo thối lui ra sau bảy tám bước, suýt chút nữa ngã xuống.Ông già gầm lên: "Hảo tiểu tử, chạy không thoát đâu hãy theo ta đi thôi!"

Ông già ấy định chụp xuống, chợt nghe có người cười lạnh lùng: "Lão thất phu, sao ngươi không giữ lời?" Người chưa thấy mà giọng nói đã vang lên bên tai lão.

Lão già cả kinh, sợ có người đột kích mình, nên không dám chụp xuống trảo ấy, quay đầu lại nhìn thì thấy trong đống loạn thạch có một bóng người, dưới ánh trăng trông rất rõ ràng, đó là một thiếu niên khoảng hai mươi tuổi.

Lão già thở phào, thầm nhủ: "Mình tưởng có cao nhân nào đến, té ra là một thằng tiểu tử miệng còn hôi sữa, nhưng tên tiểu tử này hơi quái dị, y đứng cách xa như thế mà giọng nói cử như bên tai của mình, không biết đó là loại công phu gì?"

Lúc này Lý Nam Tinh cũng thay rõ ràng, chàng không khỏi mừng ra mặt, kêu lớn: "Hiền đệ, đệ cũng đến đấy ư? Sao đệ biết ta ở đây?" Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Kim Trục Lưu phóng vọt người lên lộn người trên không trung, rồi hạ xuống nhẹ nhàng bên cạnh Lý Nam Tinh, thân pháp đẹp đẽ vô cùng! Lão già không khỏi thầm khen, trong lòng càng kinh ngạc hơn. Kim Trục Lưu nói: "Lý đại ca, huynh hãy nhường cho đệ đối phó với lão già không giữ lời hứa này!"

Lão già giận dữ: "Ta không giữ lời hứa lúc nào?" Kim Trục Lưu nói: "Ngươi nóitrong vòng một trăm chiêu phải đánh thắng đúng không. Ha ha, ta đã đếm rất rõ ràng, ngươi phải dùng một trăm lẻ hai chiêu mới thắng nổi đại ca của ta!" Lão già đỏ mặt: "Ngươi nói vớ vẩn, ta chỉ dùng chín mươi tám chiêu mà thôi".

Kim Trục Lưu cười rằng: "Uổng cho ngươi là truyền nhân của Tu la âm sát công. Cả tổ sư Mạnh Thần Thông của ngươi cũng bị ngươi làm cho mất mặt. Mạnh Thần Thông tuy là một đại ma đầu nhưng cũng biết giữ lời, không mặt dày như ngươi!"

Lão già họ Dương thất kinh, thầm nhủ: "Tên tiểu tử này tuổi còn trẻ mà sao biết lai lịch của mình?" Thế rồi thẹn quá hóa giận, quát: "Ngươi là ai, sao dám nói càn ở đây?"

Hán tử đang giao thủ với Trần Quang Chiếu chợt kêu lên: "Sư phụ, tên tiểu tử này là Kim Trục Lưu. Y chính là kẻ thù của con, sư phụ, người đừng buông tha cho y!"

Té ra hán tử mặt mày như kẻ bệnh hoạn ấy chính là người Kim Trục Lưu đã tìm ra trong nhà Phong Diệu Thường, kẻ này tên gọi Cung Bình Dã, hôm ấy bị Kim Trục Lưu đánh một chưởng, nghỉ ngơi hơn ba tháng mới khỏe lại. Còn ông già tên gọi Dương Hạo, cha của lão là Dương Xích Phù vốn là học trò của Mạnh Thần Thông. Dương Hạo chỉ có một tên đồ đệ là Cung Bình Dã, nay ở võ lâm Trung Nguyên chỉ có hai người bọn họ luyện Tu la âm sát công.

Kim Trục Lưu cười: "Hay lắm, hai thầy trò các người không chịu buông tha cho ta đúng không? Ta cũng chẳng muốn buông tha cho các ngươi!" Nói chua dứt lời đã nhảy bổ tới, Cung Bình Dã chỉ đành rời Trần Quang Chiếu, lách ra sau lưng sư phụ, Kim Trục Lưu cố ý dọa cho y chạy để Trần Quang Chiếu thoát thân.

Dương Hạo nổi giận bừng bừng, quát: "Hảo tiểu tử dám bắt nạt đồ đệ của ta, ngươi hãy tiếp của ta một trăm chiêu". Kim Trục Lưu cười lớn: "Ta có gì mà không dám, chỉ e ngươi không tiếp nổi một trăm chiêu của ta!"

Dương Hạo đánh ra một chưởng, Kim Trục Lưu phóng lên, cười ha hả: "Ta đang nóng nực, đa tạ ngươi tặng ta một luồng gió mát!" Dương Hạo cả kinh: "Tên tiểu tử này không sợ Tu la âm sát công!"

Hai chưởng giao nhau bình một tiếng, hai bên đều lắc lư, nhưng Kim Trục Lưu lùi ra sau một bước!

Té ra từ nhỏ Kim Trục Lưu đã luyện thành nội công chính tà hợp nhất, năm xưa Kim Thế Di tỉ thí với Mạnh Thần Thông nhiều lần, biết bí mật của Tu la âm sát công, bản thân ông ta tuy không luyện môn công phu này nhưng đã truyền cho con trai tâm pháp nội công chế ngự Tu la âm sát công cho nên Kim Trục Lưu không hề sợ hãi.

Nhưng công lực của chàng rốt cuộc vẫn kém Dương Hạo một bậc, Tu la âm sát công của Dương Hạo chẳng làm gì được chàng, nhưng nhờ chưởng lực vẫn có thể đẩy lùi chàng một bước.

Dương Hạo là kẻ cầm đầu bọn người này, y và Kim Trục Lưu đơn đả độc đấu, những người bên cạnh không xen tay vào. Nhưng những kẻ này sợ Lý Nam Tinh bỏ chạy cho nên ào ào tiến lên vây đánh Lý Nam Tinh. Vì muốn bắt sống Lý Nam Tinh, tuy có nói trước không lấy đông để thắng nhưng Dương Hạo cũng không lên tiếng. Kim Trục Lưu kêu lên: "Đại ca, hãy dùng kiếm!"

Lý Nam Tinh rút kiếm, quát: "Các người hãy xông cả lên!" Ánh kiếm quang lướt tới, chỉ thấy binh khí của bọn chúng gãy lả tả.Cả bọn bị chặt gãy hết binh khí, không khỏi cả kinh vội vàng thối lui.

Võ công của Cung Bình Dã tương đối cao, né tránh được cây huyền thiết bảo kiếm, liền bước vòng ra sau lưng Lý Nam Tinh, lập tức phát chưởng đánh lén.

Cung Bình Dã mới luyện được tới tầng thứ năm, y có thể khắc chế được Trần Quang Chiếu nhưng không làm gì nổi Lý Nam Tinh, Lý Nam Tinh không thèm quay đầu lại, trở tay đánh lại một chưởng. Hai chưởng giao nhau, bình một tiếng Cung Bình Dã bị đẩy thối lui ra sau.

Lý Nam Tinh đang định chạy đến chỗ Kim Trục Lưu, chợt thấy có một bóng người lướt tới, cười lạnh lùng: "Chắc là cây huyền thiết kiếm trong tay của ngươi, được, Sử Bạch Đô không giữ nổi, cứ để cho ta!"

Người ấy dùng đôi tay không, Lý Nam Tinh trong nhất thời vẫn chần chừ chưa quyết, không biết có nên dùng kiếm đối phó y không? Không ngờ người ấy phát chưởng, luồng gió nóng vù vù tản ra xung quanh, chưởng lực mạnh như dời núi lấp biển, Lý Nam Tinh dùng thân pháp Thiên cân trụy nhưng chân vẫn không thể nào đứng vững. Người ấy phát ra hai chưởng rồi lập tức thi triển công phu tay không đoạt binh khí.

Lý Nam Tinh múa cây huyền thiết kiếm, ánh thanh quang nở rộ, hợp thành một vòng tròn, người ấy đã biết đây là cây huyền thiết bảo kiếm nhưng không ngờ lợi hại đến thế vội vàng rụt tay lại. Soạt một tiếng, ống tay áo của người ấy đã bị bảo kiếm chém đứt một mảng, nhưng cây huyền thiết kiếm nặng gần cả trăm cân cũng bị y phất ống tay áo lệch sang một bên.

Lúc này hai bên đều không dám khinh địch, người ấy nghĩ bụng: "Tên tiểu tử có thể chống nổi Lôi thần chưởng của mình, trong tay lại có bảo kiếm, không thể coi thường được". Còn Lý Nam Tinh nghĩ: "Công lực của người này còn hơn cả lão già họ Dương. Hỏng bét, nếu cây huyền thiết kiếm không thắng được y, đêm nay chỉ e khó thoát thân".

Cung Bình Dã và bọn hán tử bị gãy hết binh khí không dám đến gần Lý Nam Tinh, vì thế chuyển mục tiêu nhảy về phía Trần Quang Chiếu. Trần Quang Chiếu vung ra một nắm Băng phách thần đạn, Cung Bình Dã không sợ thần đạn nhưng những kẻ khác thì chịu không nổi, ngoại trừ hai tên có nội công tương đối cao, số còn lại đều run bần bật, đành tránh ra xa.

Trần Quang Chiếu vốn không đánh lại Cung Bình Dã, may mà Lý Nam Tỉnh vừa mới chạm một chưởng với y, làm cho y hao tốn chân lực, Tu la âm sát công của y bị giảm uy lực, Trần Quang Chiếu mới có thể đánh ngang sức với y. Nhưng hai kẻ có nội công tương đối cao không bị đả thương bởi băng đạn thì lại xông lên, Trần Quan Chiếu không thể nào phóng ra thần đạn cho nên đánh rất vất vả.

Lý Nam Tinh địch lại hán tử này, hai bên đều e dè lẫn nhau, nhưng vì Lý Nam Tinh đã đánh trước một trận cho nên không khỏi rơi xuống thế hạ phong.

Lý Nam Tinh không biết hán tử này, nhưng Kim Trục Lưu thì biết, bất đồ thầm lo lắng cho Lý Nam Tinh, té ra y chính là Âu Dương Kiên, kẻ chàng đã gặp mấy tháng trước ở núi Tồ Lai. Lần đó Âu Dương Kiên bị bang chủ phái Cái Bang Trọng Trường Thống đánh bại, Kim Trục Lưu vẫn chưa giao thủ với y.

Tuy Trọng Trường Thống đánh bại Âu Dương Kiên nhưng cũng phải hơn một trăm chiêu. Thử hỏi công phu của Trọng Trường Thống thâm hậu đến thế, những kẻ kém cỏi thì làm sao có thể chống nổi một đòn của y. Cho nên tuy Kim Trục Lưu chưa giao thủ với Âu Dương Kiên nhưng cũng biết bản lĩnh của y.

Dương Hạo càng đánh càng mạnh, Kim Trục Lưu dùng liên tiếp các loại võ công và thân pháp khác nhau nhưng rốt cuộc vẫn hơi kém hơn y.

Dương Hạo đánh mãi mà không hạ được y, lòng thầm thất kinh nghĩ bụng: "Không biết tên tiểu tử này có lai lịch thế nào mà ghê gớm đến thế! Nếu trong vòng một trăm chiêu mà mình không thể thủ thắng, cứ đánh mãi chỉ e sẽ bại trong tay của y". Bởi vì Tu la âm sát công rất hao tốn nguyên khí, nên Dương Hạo cần phải đánh nhanh thắng nhanh, nếu không đến khi suy kiệt sức lực, y không thể chống nổi những chiêu số biến hóa khó lường của Kim Trục Lưu.

Dương Hạo liên tục đánh ra những đòn sát thủ, đẩy Kim Trục Lưu lùi mấy bước rồi quát: "Tên tiểu tử kia, sao nhà ngươi vẫn chưa bó tay chịu trói? Ta sẽ khiến cho ngươi muốn sống không được, muốn chết cũng không xong!" Tuy bề ngoài Dương Hạo làm ra vẻ hung dữ, nhưng trong bụng đã lo lắng, y tấn công gấp gáp là để dọa cho đối phương hoảng sợ không dám đánh nữa.

Kim Trục Lưu biết dụng ý của kẻ địch, vẫn trả đòn mạnh mẽ mà không hề lo sợ. Chàng tuy không sợ cho mình nhưng lại lo cho Lý Nam Tinh và Trần Quang Chiếu. Trong lúc kịch chiến, Kim Trục Lưu liếc mắt nhìn chỉ thấy Lý Nam Tinh đeo một chiếc nhẫn, ánh sáng của chiếc nhẫn phát ra lấp lánh, Kim Trục Lưu cảm thấy một luồng khí lạnh chạy qua người.

Lúc này chàng định thần nhìn kỹ lại chỉ thấy chiếc nhẫn trông giống hệt chiếc nhẫn của mình! Câu hỏi trong lòng chàng bấy lâu nay đã được giải đáp, té ra Lý Nam Tinh là người cha chàng muốn Giang Hải Thiên gặp mặt?

Sau khi hiểu ra điều đó, một câu hỏi khác lại dâng lên trong lòng: "Lý đại ca đã quen biết cha mình từ trước, nếu không cha làm sao tặng chiếc nhẫn ngọc cho y? Nhưng tại sao Lý đại ca không nói cho mình biết? Cha bảo Giang sư huynh đêm nay đến Bí Ma Nhai gặp y, chẳng lẽ đã sớm biết chuyện đêm này?"

Nhưng lúc này Kim Trục Lưu không rảnh suy nghĩ nhiều nữa, đang lúc kịch chiến chàng ngẩng đầu lên nhìn thì chỉ thấy mặt trăng đã lên tới giữa bầu trời, Kim Trục Lưu cả mừng cười rằng: "Dương Hạo, ngươi dừng cuồng ngạo, xem thử đêm nay mai sẽ bó tay chịu trói? Lý đại ca, đừng sợ bọn chúng, đệ đảm bảo chỉ một chốc nữa thôi bọn chúng sẽ đại bại!"

Lúc này Lý Nam Tinh cũng thắc mắc trong bụng, chàng cũng đã thấy chiếc nhẫn hàn ngọc trong tay Kim Trục Lưu, lòng thầm nhủ: "Mình chỉ nghĩ Kim Trục Lưu không biết mình là ai, xem ra y đã gặp cha mẹ của mình. Nhưng tại sao y lại giấu mình?"

Số là trước khi Lý Nam Tinh ra đi, cha mẹ của chàng đã đưa chiếc nhẫn hàn ngọc này cho chàng rồi nói: "Con đến Trung Nguyên, nếu gặp người đeo chiếc nhẫn như thế này, con có thể yên tâm nhờ cậy y. Nếu gặp nguy hiểm, con cứ đeo chiếc nhẫn này vào, không chừng có thể giúp con chuyển rủi thành may". Lý Nam Tinh nhớ lại cha mẹ dặn, cho nên đêm nay đến gặp Dương Hạo, cũng đeo chiếc nhẫn hàn ngọc này. Lúc đầu chàng nghĩ đó chỉ là điều mê tín, chỉ vì cha mẹ đã căn dặn cho nên mới đeo thử xem sao, không ngờ quả nhiên trong lúc nguy cấp thì Kim Trục Lưu đột nhiên xuất hiện.

Lý Nam Tinh thấy Kim Trục Lưu đeo chiếc nhẫn, đương nhiên tưởng rằng chàng ta được cha mẹ mình nhờ đến cứu, chứ không biết rằng Kim Trục Lưu cũng như mình, trong lòng cũng đầy thắc mắc.

Lý Nam Tinh nghe Kim Trục Lưu nói như thế thì phấn chấn tinh thần, múa tít cây huyền thiết kiếm, giao đấu với Âu Dương Kiên đến hai ba mươi chiêu. Nhưng Lôi thần chưởng của Âu Dương Kiên quả nhiên lợi hại, mỗi chưởng phát ra đều như có một luồng khí nóng dồn tới, lại thêm Lý Nam Tinh phải dùng nhiều sức để múa cây kiếm nặng nề cho nên cảm thấy càng nóng nực hơn. Sau ba mươi chiêu, Lý Nam Tinh toát mồ hôi đầy người tựa như đang ở trong lò lửa.

Lý Nam Tinh nghĩ bụng: "Trục Lưu nói rất chắc ăn, không biết trong hồ lô của y chứa thuốc gì? Xem ra y cũng khó giữa mạng. Hỡi ơi chả lẽ y chỉ an ủi mình mà thôi?"

Dương Hạo đẩy Kim Trục Lưu lùi mấy bước rồi cười lớn: "Hảo tiểu tử, ta phải coi thử ngươi có còn dám khoác lác nữa không?" Lúc này trăng lên đến đỉnh đầu, đã đến canh ba, Kim Trục Lưu hơi lo lắng, thầm nhủ: "Chả lẽ sư huynh gặp chuyện gì trên đường, ông ta mà không đến thì chúng ta hỏng bét".

Dương Hạo cười chưa dứt, chợt thấy phía trước có xuất hiện một người, người ấy lớn giọng nói: "Các vị hãy nể mặt Giang mỗ ngừng tay lại. Dương tiên sinh, Âu Dương tiên sinh, hai người là bậc tiền bối trong võ lâm, tại sao lại làm khó hai kẻ hậu sinh? Có chuyện gì có thể nói cho Giang mỗ nghe! Ta đảm bảo sẽ chủ trì công đạo".

Giang Hải Thiên đột nhiên xuất hiện, trong số vây cánh của Dương Hạo chỉ có ba người nhận ra ông ta, những kẻ khác thì không biết ông ta là ai, vừa thấy có người xuất hiện thì lập tức đã phóng ám khí về phía ông ta.

Giang Hải Thiên không động thanh sắc, miệng vẫn tiếp tục nói, còn tay nhặt một hòn đá, chỉ thấy Ông ta mở tay ra, hòn đá biến thành một nắm sỏi. Giang Hải Thiên hờ hững vãi về phía trước, chỉ nghe tiếng keng keng không ngớt bên tai, những món ám khí ấy đều đã bị ông ta đánh rơi. Điều kì diệu là, mỗi ám khí đều rơi trước mặt chủ nhân của nó, không hề sai sót. Bất cứ kẻ nào cũng đều biết Giang Hải Thiên đã nương tay.

Bọn cường đạo lúc này mới biết đó chính là Giang Hải Thiên. Giang Hải Thiên được võ lâm công nhận là thiên hạ đệ nhất cao thủ, ai mà không biết tiếng tăm ông ta?

Bọn cường đạo không hẹn mà đều ngừng tay, chỉ có Âu Dương Kiên đang tung chưởng về phía Lý Nam Tinh, trong nhất thời không kịp thâu chưởng về, lòng thầm nhủ: "Dù sao cũng đã đắc tội với Giang Hải Thiên, chi bằng cứ bắt tên tiểu tử này trước để làm giá".

Âu Dương Kiên lật lòng bàn tay lại, nhả nội lực ra, chợt cảm thấy có một luồng kình phong dồn tới, Giang Hải Thiên phất tay áo, lách tới trước mặt hai người. Luồng nội lực của Âu Dương Kiên tựa như đánh vào biển khơi, chẳng còn tăm hơi, y thất kinh vội vàng rút tay. Lý Nam Tinh lúc này đang nóng nực khắp cả người chợt cảm thấy như có luồng khí mát tỏa khắp thân người, tinh thần đã phấn chấn. Giang Hải Thiên mỉm cười: "May mà hai người vẫn chưa bị thương, mong hãy nể mặt Giang mỗ, có chuyện gì hãy từ từ nói!" Âu Dương Kiên tưởng rằng chắc chắn Lý Nam Tinh đã bị thương cho nên đã trót thì phải trét, lúc này thấy không làm gì được Lý Nam Tinh, thế là không còn lo lắng, cung tay nói: "Tôi nào dám không nghe lệnh Giang đại hiệp?" Rồi lui sang một bên. Lý Nam Tinh thầm ngạc nhiên, nhủ rằng: "Sao Giang Hải Thiên cũng đeo một chiếc hàn ngọc? Sao người đó biết đêm nay mình có hẹn?"

Dương Hạo càng lúng túng, ấp úng: "Chỉ là chuyện nhỏ nhoi, không ngờ kinh động đến Giang đại hiệp".

Giang Hải Thiên hỏi tới: "Rốt cuộc là chuyện gì?"

Dương Hạo hờ hững: "Chẳng có chuyện gì cả, chúng tôi chẳng qua chỉ muốn mời Lệ công tử làm thủ lĩnh của chúng tôi, nhưng Lệ công tử lại không chịu..."

Kim Trục Lưu cười lớn: "Thế là ngươi động thủ với người ta?"

Giang Hải Thiên cười đáp rằng: "Té ra là thế, Dương tiên sinh cũng có ý tốt.

Nhưng mỗi người có mỗi chí khác nhau, ông cũng không nên làm khó người ta. Dương tiên sinh, không biết tôi nói có đúng không?" Giang Hải Thiên nói khéo léo để DươngHạo xuống nước.

Lúc này Dương Hạo nào còn dám nói gì nữa. Lão ấp úng cúi người thối lui. Trong chớp mắt bọn cường đạo đã đi chẳng còn một mống.

Kim Trục Lưu bước tới hành lễ, cười nhẹ: "May mà sư huynh đến kịp lúc".

Giang Hải Thiên hỏi: "Đệ và Lệ công tử đã quen biết từ trước ư?"

Kim Trục Lưu cung kính: "Bẩm sư huynh, hai chúng tôi đã kết nghĩa từ trước. Nhưng lúc nãy đệ mới biết té ra Lý đại ca là người cha muốn sư huynh gặp".

Giang Hải Thiên nghe Kim Trục Lưu nói như thế thì đã biết lai lịch của Lệ Nam Tinh, bèn cười ha hả: "Hai người vốn đã phải thân thiết nhau, chuyện này cũng thật trùng hợp". Nghĩ bụng nói: "Sư phụ hành sự cũng thật kỳ lạ, kẻ này là con trai của Lệ Phục Sinh, sao không nói trước cho sư đệ biết, khiến cho mình phải nhọc lòng suy đoán".

Lý Nam Tinh thở dài: "Tôi đã hiểu, té ra Kim Thế Di kêu các người tới đây".

Giang Hải Thiên nhíu mày, thầm nhủ: "Nếu luận vai về, sư phụ của ta cao hơn ngươi hai bậc, ngươi không biết cảm ơn thì thôi, sao lại dám gọi tên của sư phụ của ta ra?" Té ra Lý Nam Tinh vốn họ Lệ, cha của chàng Lệ Phục Sinh là cháu của LệThắng Nam, mà Lệ Thắng Nam là tình nhân của Kim Thế Di.

Kim Trục Lưu không biết cha mình và nhà họ Lệ có mối ân oán, nghe Lệ Nam Tinh kêu thẳng tên cha mình ra, không hề có ý tôn trọng, trong lòng cũng bất mãn.

Nhưng chợt nghĩ lại: "Cha cho y chiếc nhẫn hàn ngọc, lại bảo sư huynh đến Bắc Kinh gặp y, có thể thấy cha rất yêu thương đại ca. Mình phải nên nghĩ đến dụng tâm của cha. Có lẽ đại ca còn hiểu lầm cha điều chi, sau này mình sẽ hiểu, lúc này không cần phải nhớ trong lòng!" Kim Trục Lưu vốn là người không câu nệ tiểu tiết, chàng nghĩ như thế cho nên cũng thôi.

Trần Quang Chiếu và Giang Hải Thiên vốn quen biết nhau, sau mấy câu hàn huyên thì Không Chiếu đại sư cũng tới. Ông phát hiện hai người Trần, Lệ mất tích, trong lòng không yên cho nên chạy ra xem cho rõ. Giang Hải Thiên và Không Chiếu đại sư gặp nhau rất mừng rỡ. Trần Quang Chiếu và Kim Trục Lưu mới gặp mặt nhau cho nên cũng có nhiều lời để nói. Trong nhất thời bạn bè cũ mới trò chuyện rôm rả, còn Lệ Nam Tinh ngồi lặng lẽ một bên.

Lệ Nam Tinh chợt ôm quyền vái dài, hờ hững nói: "Giang đại hiệp, đa tạ đêm nay ông đã tương trợ, tôi không nhận ơn của sư phụ ông, cũng phải nhận tình của ông. Sau này sẽ trả ơn, xin thứ tôi phải đi trước". Rồi không đợi Giang Hải Thiên trả lời, hèn xoay người lướt đi.

Giang Hải Thiên không khỏi ngạc nhiên. Ông ta đang nói chuyện với Không Chiếu đại sư, không tiện chạy đi, đành bảo: "Sư đệ, hãy thay ta tiễn khách. Hãy đưa y một đoạn. Sáng sớm hôm sau, đệ hãy trở về chùa Ngọa Phật". Ý ông ta muốn bảo Kim Trục Lưu chạy theo Lệ Nam Tinh hỏi cho rõ ràng.

Kim Trục Lưu lòng đầy thắc mắc, thật ra không đợi Giang Hải Thiên nhắc, chàng cũng phải hỏi cho rõ ràng. Khinh công của chàng hơn hẳn Lệ Nam Tinh, Lệ Nam Tinh hình như có ý chờ chàng cho nên chỉ trong chốc lát chàng đã đuổi theo kịp. Lệ Nam Tinh quay đầu lại hỏi: "Hiền đệ, ta biết đệ thế nào cũng tới".

Kim Trục Lưu hoang mang: "Đại ca, có rất nhiều chuyện đệ không hiểu..."

"Cha của đệ không nói với đệ về ta ư?"

"Không. Cha bảo đệ đem một bức thư đến cho sư huynh, bảo sư huynh đến đây gặp đại ca, đệ cảm thấy rất kỳ lạ, hình như cha đã biết được trước chuyện đêm nay xảy ra".

"Đệ về Trung Nguyên từ lúc nào?"

"Đã hơn năm tháng".

"Ồ, té ra là thế, chả trách nào".

"Tại sao thế?"

"Nửa năm trước ta và Dương Hao hẹn đêm nay sẽ gặp nhau. Cha của đệ tuy ở hải đảo, nhưng ông ta có rất nhiều bằng hữu ở võ lâm Trung Nguyên, chắc là đã sớm biết tin này".

Kim Trục Lưu nói: "Đại ca, đại ca và cha của đệ có phải đã quen biết từ trước?" "Cứ mỗi một hai năm cha của đệ đến nhà ta một lần, ta đã được ông chỉ điểm rất nhiều, nhất là nội công và kiếm thuật, từ nhỏ ta đã học võ của cha đệ".

Kim Trục Lưu chợt vỡ lẽ ra, lòng thầm nhủ: "Chả trách nào ngày ấy trên trường thành mình múa kiếm đại ca gảy đàn, tiết tấu tiếng đàn rất hợp với chiêu số của mình. Nghĩ lại, y chưa chính thức bái sư nhưng cũng là đệ tử của cha mình. Nhưng tại sao lại có vẻ bất mãn với cha mình đến thế?"

Kim Trục Lưu lo lắng là vì tình bằng hữu, không dám nói thẳng ra, chàng đang suy nghĩ phải hỏi như thế nào cho khéo, Lệ Nam Tinh thở dài, nói: "Lệnh tôn xem ta như con cháu, từ nhỏ ta được lệnh tôn thương yêu, trong lòng cũng rất cảm kích, chỉ vì ta có một chuyện bất mãn cho nên mới bất kính với lệnh tôn. Thật ra làm kẻ tiểu bối không nên như thế. Lúc nãy ta đã sai, mong hiền đệ thứ lỗi!"

Ban đầu Lệ Nam Tinh gọi là "cha" của đệ, sau đó lại nói là "lệnh tôn", chàng lại còn xin lỗi Kim Trục Lưu, Kim Trục Lưu cũng đã hết giận. Những nỗi thắc mắc vẫn chưa giải được, thế rồi hỏi: "Chuyện gì khiến cho đại ca bất mãn, có liên quan gì đến cha của đệ?"

Lệ Nam Tinh thở dài: "Chuyện này đã trải qua ba mươi năm, kẻ làm tiểu bối như chúng ta không cần phải nhớ đến! Thôi đi vậy, đệ cũng không cần hỏi lệnh tôn nữa".

Té ra khi còn ở nhà Lệ Nam Tinh không hề biết Kim Thế Di và Lệ Thắng Nam có liên hệ với nhau. Sau khi đến Trung Nguyên, chàng đã gặp những kẻ trong Thiên ma giáo, bọn họ vẫn còn ôm thù hận đối với Kim Thế Di, cho nên cho Lệ Nam Tinh biết chuyện này, nhưng bọn họ cũng không biết rõ ràng, vì thế khi kể đến "tình sử" của hai người Kim, Lệ, không khỏi thêm mắm dặm muối, đặt điều nói xấu Kim Thế Di. Thậm chí còn bảo Lệ Thắng Nam chết là do Kim Thế Di thay lòng đổi dạ. Nếu cha của mẹ của Lệ Nam Tinh sớm cho chàng biết sự thực của chuyện này thì đã tốt hơn nhiều. Vì thế mới nghĩ rằng: "Té ra Kim Thế Di vì áy náy trong lòng, tại có lỗi với nhà mình cho nên mới truyền thụ võ công cho mình để bù đắp".

Lệ Nam Tinh là người rất dễ xúc động, chàng đã có ý nghĩ này cho nên khó có thể thông cảm cho Kim Thế Di. Nhưng cũng chính vì là một người dễ xúc động, tấm chân tình của Kim Trục Lưu đã cảm động chàng, cho nên chàng cũng không khỏi có chút hối hận.

Kim Trục Lưu là người phóng khoáng, không câu nệ tiểu tiết. Lệ Nam Tinh đã xin lỗi, chàng cũng không cần để bụng nữa. Tuy Lệ Nam Tinh không chịu giải thích,nhưng Kim Trục Lưu cũng không hỏi nữa.

Kim Trục Lưu bảo: "Đại ca, đại ca đi như thế ư? Giang sư huynh cũng muốn nói chuyện với huynh".

Lệ Nam Tinh thở dài: "Sử cô nương hiện giờ bị nhốt ở Lục Hợp bang, ta tiếc không mọc cánh đến gặp nàng. Sau này ta phải đến thăm sư huynh của đệ. Hiền đệ, đệ hãy thay ta tạ từ lệnh sư huynh và Trần đại ca. Họ đang đợi đệ đệ hãy quay về!"

Lệ Nam Tinh tuy ngoài miệng thúc giục Kim Trục Lưu trở về nhưng trong bụng thì mong chàng đi cùng mình đến Lục Hợp bang. Nhưng vì lần trước đã bị chàng từ chối, Lệ Nam Tinh là người có lòng tự ái cho nên không muốn mở miệng hỏi Kim Trục Lưu.

Kim Trục Lưu cảm thấy bẽ bàng, buồn bã nói: "Được, mong đại ca và Sử cô nương trăm năm đầu bạc, đệ quay về đây".

Kim Trục Lưu thẫn thờ trở về, khi đến Bí Ma Nhai, Giang Hải Thiên và Không Chiếu đại sư đã cùng Trần Quang Chiếu đang chờ chàng. Giang Hải Thiên hỏi: "Sao đệ quay về nhanh đến thế?" Trần Quang Chiếu hỏi lại: "Lý đại ca đâu?"

Kim Trục Lưu nói: "Lý đại ca có việc cho nên phải đi trước".

Giang Hải Thiên hỏi: "Người này thật kỳ lạ, sư đệ, đệ và y đã nói những gì?"

Kim Trục Lưu nghĩ bụng Giang Hải Thiên thế nào cũng biết chuyện này cho nên hỏi: "Y bảo có một chuyện khiến y bất mãn, nhưng không biết chuyện này có liên quan gì đến cha?"

Giang Hải Thiên thở dài: "Ta đã hiểu. Chắc là y đã nghe những lời ong tiếng ve nào đó cho nên bất mãn trong lòng".

Kim Trục Lưu thở dài: "Lời ong tiếng ve gì mà khiến đại ca bất mãn? Chuyện này chắc chắn có liên quan đến nhà họ Lệ, đúng không?" Kim Trục Lưu trỗi lòng tò mò, cho nên hỏi dấn tới khiến cho Giang Hải Thiên khó xử.

Giang Hải Thiên nói: "Có lẽ Lệ Nam Tinh hiểu nhầm đối với sư phụ, nhưng chuyện này không phải hoàn toàn là cái sai của sư phụ, sau này đệ chắc chắn sẽ hiểu". Giang Hải Thiên không tiện nhắc đến "tình sử" của sư phụ, chỉ đành đáp như thế.

Không Chiếu đại sư chợt bảo: "Tất cả mọi nhân duyên bay qua như làn khói trước mắt. Nếu lòng không thẹn, có nói ra cũng chẳng sao". Ông ta là bậc cao tăngđắc đạo, biết Kim Trục Lưu đã nổi lòng tò mò, nếu không hỏi cho rõ ràng thì sẽ không chịu thôi. Cho nên nói mấy câu như thế, tỏ ý muốn cho Kim Trục Lưu biết mọi chuyện.

Giang Hải Thiên vốn là người phóng khoáng, nghe Không Chiếu đại sư nói như thế thì cười rằng: "Đại sư đã nói không sao thì tôi sẽ nói. Sư phụ và huynh kết hôn trong cùng một ngày, đệ có biết là vì sao không?" Kim Trục Lưu hỏi: "Có phải cha mẹ đệ quen nhau muộn màng không?" Giang Hải Thiên nói: "Không phải. Sư phụ vì một người phụ nữ cho nên hai mươi năm mới thành thân với mẹ của đệ". Kim Trục Lưu tò mò hỏi: "Người đó chắc chắn là họ Lệ?"

Giang Hải Thiên nói: "Đúng thế, người đó tên gọi Lệ Thắng Nam. Sư phụ quen biết sư mẫu trước, sau đó mới gặp gỡ Lệ Thắng Nam, Lệ Thắng Nam yêu thương sư phụ, nhưng sư phụ và sư mẫu đã có tình cảm từ trước. Tuy hai người đã yêu thương nhau nhưng vẫn chưa có hôn ước, sau đó Lệ Thắng Nam và cha của đệ liên thủ đánh bại đại ma đầu Mạnh Thần Thông, rồi Lệ Thắng Nam lại đến núi Thiên Sơn tỉ võ, đánh bại chưởng môn đời trước của phái Thiên Sơn là Đường Hiểu Lan, trở thành người có võ công để nhất thiên hạ, nhưng bản thân bà ta cũng bị trọng thương. Cha của đệ cảm tấm tình si của bà ta, chấp nhận làm vợ chồng với bà ta một đêm". Kim Trục Lưu hỏi lại: "Vợ chồng một đêm có nghĩa là sao?"

Giang Hải Thiên nói: "Trong đêm động phòng Lệ Thắng Nam đã sớm ngọc nát hương tàn, cho nên chỉ có danh vợ chồng với sư phụ. Sư phụ là người trọng tình cảm, cho nên hai mươi năm sau mới cưới sư mẫu".

Giang Hải Thiên kể sơ qua tình sử của Kim Thế Di cho Kim Trục Lưu nghe, lời lẽ có ý thiên vị cho sư phụ và sư mẫu. Nhưng cũng không thể trách được ông ta, ông ta không biết rằng thời thiếu niên Kim Thế Di thật sự yêu Lệ Thắng Nam.

Kim Trục Lưu nghe thế thì ngẩn người. Câu chuyện này đem lại cho chàng rất nhiều cảm xúc, chàng kính trọng cha mẹ nhưng sau khi nghe chuyện cũng rất thông cảm với Lệ Thắng Nam. Lòng thầm nhủ: "Trên đời hiếm có người chung thủy như Lệ cô nương này, bà ta đã vì cha mình mà không tiếc dùng mọi thủ đoạn. Nhưng sau khi được danh phận phu thê thì lại hy sinh bản thân để cho cha mẹ đến với nhau. Có thể nói bà ta đã hiểu lý lẽ thật sự của tình yêu".

Nghĩ đến đây, lòng chợt chấn động, chàng thầm nhủ: "Quan hệ giữa mình và Lý đại ca với Sử cô nương chẳng giống họ hay sao?"

Chính là: Nếu trời có tình trời cũng già, hỏi ai hiểu được mối tình si?
 
Muốn biết chuyện xảy ra thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ

Hiệp Cốt Đan Tâm 22 : Rút Kiếm Cuồng Ca Đau Chuyện Cũ - Gảy Đàn Lặng Lẽ Tiếc Lương Duyên

Kim Trục Lưu tỏ vẻ mừng rỡ: "Chúc mừng đại ca. Hai chữ duyên phận rất khó kiếm, không ngờ đại ca vô tình lại có được!"

Lý Nam Tinh cười rằng: "Ta xưa nay không thích nữ tử, không ngờ vừa gặp Sử cô nương đã điên đảo thần hồn, ngày đêm thương nhớ đến nàng, đó chẳng phải có duyên hay sao?"

Kim Trục Lưu hỏi: "Nhưng Sử cô nương có bày tỏ cho huynh biết chưa?"

Lý Nam Tinh lại cười: "Không phải ta tự cho mình đa tình, theo ta thấy, trong lòng ta có nàng, trong lòng nàng cũng đã có ta. Nếu không hôm ấy nàng đã không liều mạng vì ta đến thế".

Kim Trục Lưu biết tính cách của Sử Hồng Anh, lòng thầm nhủ: "Hồng Anh là người ân oán phân minh, thị phi rõ ràng, coi trọng tình bằng hữu, trước đây nàng đã từng hết lòng giúp Lý Đôn, vì thế mà mình cũng hiểu lầm nàng".

Những vấn đề không phải ở Sử Hồng Anh, Kim Trục Lưu chợt nghĩ lại: "Dù đại ca có tự cho đa tình hay không, y cũng đã thương mến Hồng Anh. Quân tử không đoạt thứ yêu thích của người, huống chi mình và y là huynh đệ kết nghĩa?" Rồi lại nghĩ: "Hình như Hồng Anh cũng có ý với mình, nhưng không chừng mình cũng tự cho đa tình? Thôi đi, dù nàng có ý với mình cũng được, không có ý cũng được, sau này mình phải tự kìm nén lánh xa nàng, để cho trái tim của nàng hoàn toàn hướng về đại ca".

Lý Nam Tinh hỏi vội: "Hiền đệ, đệ đang nghĩ gì thế?"

Kim Trục Lưu đáp: "Đệ đang nghĩ... khi nào thì uống rượu mừng của đại ca".

Lý Nam Tinh cười: "Vẫn còn sớm. Nay Sử cô nương đã bị nhốt trong tổng đà của Lục Hợp bang, không cứu nàng ra thì chẳng thể nói được chuyện gì. Hiền đệ, lúc nãy đệ đã nghe Sử Bạch Đô hẹn ta, chúng ta cùng đến tổng đà của Lục Hợp bang được chứ?"

Kim Trục Lưu ngần ngại: "Sử Bạch Đô có ý hứa hôn, đại ca còn lo gì?"

Lý Nam Tinh nói: "Nói là thế, nhưng phải đề phòng có cạm bẫy?"

Kim Trục Lưu: "Theo đệ thấy Sử Bạch Đô sẽ không hại huynh. Khi huynh xông vào, Sử Bạch Đô đã nhận ra huynh chưa khỏe hẳn, nếu có ý hại huynh thì chắc chắn đã ra tay rồi".

Lý Nam Tinh hơi bất mãn, thầm nhủ: "Chả lẽ Kim Trục Lưu sợ, không dám mạo hiểm cũng mình? Nhưng y nói cũng có lý. Võ công Sử Bạch Đô hơn hẳn mình, hômnay lại chịu xuống nước với mình, xem ra là thật".

Kim Trục Lưu lại nói: "Tiểu đệ còn một ít việc ở Bắc Kinh, e rằng tạm thời không thể bỏ đi". Thực ra Kim Trục Lưu sợ nếu mình cũng đi, chắc chắn sẽ gây bất lợi cho hôn nhân của Lý Nam Tinh. biết rõ Lý Nam Tinh sẽ hiểu lầm mình, chàng cũng đành từ chối.

Lý Nam Tinh là người trọng tình cảm, trong lòng tuy không vui, nhưng cũng không nói lời oán trách. Nhưng chàng không ngờ Kim Trục Lưu lại từ chối, hai người vốn đang vui vẻ lại trở nên ngượng ngùng với nhau.

Lý Nam Tinh liếc mắt nhìn thì thấy cây cổ cầm ở trên bàn, Lý Nam Tinh hỏi: "Gần đây hiền đệ có học đàn không?"

Kim Trục Lưu đáp: "Đã học vài cổ phổ, nhưng đàn vẫn chưa hay. Đại ca đi lần này không biết chừng nào mới gặp lại. Mong đại ca tặng cho đệ một khúc!"

Lý Nam Tinh đang đầy tâm sự trong lòng, chàng cầm lấy cây đàn, nói một tiếng "được", rồi gảy đàn hát rằng: "Phương dữ trạch kỳ tạp nhu hề, khương phương hoa tự trung xuất. Phân uất uất kỳ viễn thừa hề, mãn nội nhi ngoại dương. Tình giữ chất khả bảo hề. Khương cư tệ kỳ văn chương".

Đây là tiết Tư mĩ nhân thiên trong Sở từ, đại ý là: "Thơm và thối trộn lẫn với nhau, tựa như là quân tử và tiểu nhân cùng một triều. Nhưng ai cũng có thể phân biệt được hoa thơm, mùi thơm của nó không thể nào phai nhạt. Phẩm chất tốt đẹp cuối cùng vẫn có thể giữ được, tiếng tăm tốt đẹp vẫn có thể truyền đến nơi xa, không cần người lo lắng cho nàng". Sử Hồng Anh đang ở trong Lục Hợp bang, tựa như đóa sen thơm tho mọc trong chốn bùn nhơ, không cần nói "mỹ nhân" mà Lý Nam Tinh đang nhớ nhung chính là Sử Hồng Anh. Chàng còn muốn bảo Kim Trục Lưu rằng, Sử Hồng Anh rốt cuộc cũng có thể thoát ra khỏi vũng bùn Lục Hợp bang, dù Kim Trục Lưu không giúp cũng được, cũng không cần chàng lo lắng.

Kim Trục Lưu lòng rối như tơ vò, im lặng không nói. Lý Nam Tinh đưa cây đàn cho chàng rồi hỏi: "Hiền đệ đã học được cổ phổ nào? Có thể đàn cho ta nghe một khúc không?"

Kim Trục Lưu lẳng lặng gảy đàn, Lý Nam Tinh là cao thủ đàn cổ cầm, Kim Trục Lưu tuy chỉ đàn không hát, nhưng chàng vẫn có thể nhận ra đó là một bài trong kinh thi, vì thế cứ hát theo tiếng đàn rằng: "Nhật cư nguyệt chư, hồ điệt nhi vi? Tâm chi ưu hĩ, như phỉ hãn hoàn y, tịnh ngôn tư chi, bất năng phân phi". Đại ý của bài này là: "Đã từng hỏi trăng, đã từng hỏi trời, tại sao sáng mà cứ như tối? Nỗi ưu phiền trong lòng tẩy cũng không sạch, tựa như một đống đồ dơ bẩn. Ta đè tay lên ngực suy nghĩ mãi. Làm sao có thể giang cánh bay cao?"

Kim Trục Lưu đàn khúc nhạc này cũng có hàm ý sâu xa. Chàng đang khổ vì mình không thể dứt bỏ tình riêng nhi nữ, cảm thấy rằng đó là sai lầm của mình, nỗi ưu phiền trong lòng tựa như một đống đồ dơ, cần phải tẩy rửa cho sạch. Có nhiều chuyện đang chờ chàng làm, cho nên chàng phải "Đặt tay lên ngực suy nghĩ mãi, làm sao có thể giang cánh bay xa?"

Lý Nam Tinh hoàn toàn không hiểu ý Kim Trục Lưu, nhưng cũng có thể cảm nhận được tâm trạng buồn bã của chàng.

Lý Nam Tinh giật mình: "Trục Lưu đang có tâm sự gì không cho mình biết?"

Chợt nghe ngoài cửa có người khen: "Đàn rất hay!" Té ra đã đến giờ cơm, Đới Mạc đến mời họ vào ăn cơm.

Lý Nam Tinh xin cáo: "Không, tôi phải mau chóng trở về. Rồi vội vàng bước ra khách sảnh, cáo từ Đới Quân.

Đến khi Lý Nam Tinh đã khuất dạng sau cánh cổng, Đới Quân cười nói: "Người này tính tình phóng khoáng, chẳng khác gì Kim lão đệ. Chả trách nào các ngươi lại kết thành huynh đệ". Đường Kiệt Phu cũng bảo: "Võ công và đảm thức của người này quả thật bất phàm, Kim lão đệ, nói thực ta vốn có mấy phần tiếc nuối việc đệ đã tặngthanh huyền thiết kiếm cho y, nhưng nay ta xin chúc mừng vì ngươi đã tặng kiếm cho đúng người".

Kim Trục Lưu gật đầu: "Đúng thế, sống trên đời khó gặp tri kỷ. Chỉ là một thanhkiếm có gì đáng tiếc!"

Đường Kiệt Phu cả cười: "Nói rất hay, lão đệ, ta cũng mời ngươi ba chén!" Kim Trục Lưu đã uống mười mấy chén rượu, lúc này mới ngà ngà say, chàng thầm nhủ: "Đường Kiệt Phu đúng là bậc danh túc trong võ lâm!" Đường Kiệt Phu thấy Kim Trục Lưu ngồi yên, hỏi: "Lão đệ, ngươi đang nghĩ chuyện gì thế?" Kim Trục Lưu hỏi lại: "Hôm nay là ngày mấy?" Đường Kiệt Phu cười nói: "Lão đệ, hình như đệ đã say, hôm nay là ngày mười ba tháng giêng, hai ngày nữa là đến Tết Nguyên Tiêu, đệ không biết sao?"

Kim Trục Lưu gật đầu: "Quả thực đã say?" thật ra sau khi Kim Trục Lưu đại náo Tát phủ, chàng đang chờ đợi Tết Nguyên Tiêu. Bởi vì chàng nhớ ngày đó cho nên mới buột miệng hỏi. Chàng nghe hai chữ "Nguyên Tiêu", tửu ý đã giảm mấy phần.

Chàng nhớ rằng cha mình đã bảo mình đem bức thư đến cho Giang Hải Thiên, người căn dặn vào canh ba đêm Nguyên Tiêu, Giang Hải Thiên đeo một chiếc nhẫn hàn ngọc đến Bí Ma Nhai ở Tây Sơn, gặp một người cũng đeo một chiếc nhẫn như thế. Chàng cũng không biết người đó là ai.

Kim Trục Lưu thầm nhủ: "Ngày kia là Tết Nguyên Tiêu, không biết sư huynh đã đến Bắc Kinh chưa? Sư huynh kết giao rộng rãi, Đới lão liền bối cũng rất giỏi dò hỏi tin tức. Nếu sư huynh lên Bắc Kinh họ chắc chắn sẽ gặp nhau. Hai ngày nữa chắc Trần Quang Chiếu cũng đến tìm mình, mình cứ chờ ở đây, qua Tết Nguyên Tiêu sẽ đến Lục Hợp bang". Kim Trục Lưu biết khinh công của mình hơn Lý Nam Tinh, nếu ban ngày cưỡi ngựa, ban đêm chạy bộ thì dù Lý Nam Tinh đi trước hai ngày, chàng vẫn có thể đuổi kịp. Số là Kim Trục Lưu tính âm thầm theo dõi, không lộ mặt, đến tổng đà của Lục Hợp bang sẽ tùy cơ hành sự. Nếu Lý Nam Tinh không cứu nổi Sử Hồng Anh thì chàng sẽ ra tay.

Hôm sau vẫn chẳng thấy Trần Quang Chiếu, cũng chẳng nhận được tin tức của Giang Hải Thiên, Kim Trục Lưu cảm thấy ngạc nhiên, thầm nhủ: "Sư huynh đi vòng qua Tây Xương, có thể đã tính toán đúng thời gian, ngày mai sẽ tới. Nhưng tại sao Trần Quang Chiếu vẫn không đến tìm mình? Phải chăng đại ca quên không báo tin của mình cho y? Hay là y lại có chuyện khác". Hai nhà Kim, Trần có mối thâm giao với nhau, Trần Thiên Vũ lại nhờ Kim Trục Lưu chăm sóc cho con trai của mình, Kim Trục Lưu cũng muốn gặp mặt Trần Quang Chiếu.

Ngày thứ hai đã trôi qua, đến đêm Nguyên Tiêu, trời đã tối mà vẫn chẳng nhận được tin tức của Giang Hải Thiên, cũng chẳng thấy Trần Quang Chiếu đến tìm mình. Vì thế Kim Trục Lưu lấy cớ ra ngoài xem đèn, lẳng lặng ra khỏi thành. Người trong kinh thành rất coi trọng Tết Nguyên Tiêu, vừa đến tối thì lễ hội hoa đăng đã diễn ra, cho đến trời sáng mới tan. Cho nên Kim Trục Lưu mượn cớ ra ngoài xem đèn, có thể đến sáng mới quay về.

Trần Quang Chiếu không đến tìm chàng là vì có một nguyên nhân.

Lại nói Lý Nam Tinh đêm ấy chạy về Tây Sơn, đến chùa Ngọa Phật thì đã tới canh ba. Chú tiểu giữ cửa nói: "Trần công tử không thấy ngài quay về, đã đi tìm ngài khắp núi. Giờ đây không biết đã quay về hay chưa? Có cần tôi báo với phương trượng không?" Lý Nam Tinh thầm hổ thẹn, đáp: "Tôi có việc vào thành, tưởng rằng sẽ về sớm, nên không báo với phương trượng và Tôn huynh biết. Không ngờ gặp phải người bằng hữu cho nên về trễ. Không cần kinh động phương trượng, ngày mai tôi sẽ đến xin lỗi".

Lý Nam Tinh lẳng lặng về phòng, Trần Quang Chiếu quả nhiên vẫn chưa về. Lý Nam Tinh vừa cảm kích vừa áy náy, đợi một hồi, đang muốn chạy ra tìm Trần Quang Chiếu thì y đã về tới.

Dưới ánh đèn, chỉ thấy Trần Quang Chiếu vừa vui mừng vừa kinh hãi, Lý Nam Tinh vẫn chưa nói lời xin lỗi, y đã nắm lấy tay Lý Nam Tinh mà nói rằng: "Huynh đã về đấy ư? Tôi tưởng rằng huynh xảy ra chuyện!"

Lý Nam Tinh xin lỗi: "Hôm nay tôi vào thành, đã gặp Kim Trục Lưu ở nhà lão tiêu đầu Đới Quân. Huynh đoán thử y là ai?" Trần Quang Chiếu nói: "Huynh dã bảo y là huynh đệ kết nghĩa của huynh". Lý Nam Tinh cười đáp: "Đúng thế, nhưng y cũng là huynh đệ kết nghĩa của huynh, huynh có biết không?" Trần Quang Chiếu ngẩn ra, rồi cười nói: "Huynh nói phải lắm, huynh đệ của huynh vốn cũng là huynh đệ của tôi". Lý Nam Tinh bảo: "Cũng có thể nói như thế, nhưng tôi không phải nói ý này. Hai mươi năm trước, có một Kim đại hiệp nổi tiếng thiên hạ, ông ta và cha của huynh là bằng hữu, có đúng không?"

Trần Quang Chiếu vỡ lẽ ra, kêu lên: "Ô, té ra Kim Trục Lưu ấy là con trai của Kim đại hiệp?" Lý Nam Tinh: "Đúng thế. Y hẹn huynh đến gặp mặt với y.

Trần Quang Chiếu vui mừng: "Kim đại hiệp và nhà tôi có mối thâm giao, cha tôi vẫn thường nhắc đến ông ta. Lẽ ra tôi phải đến gặp Kim huynh, nhưng đáng tiếc..." Lý Nam Tinh ngạc nhiên, vội hỏi: "Đáng tiếc chuyện gì?"

Trần Quang Chiếu đáp: "Đáng tiếc vài ngày nay tôi sẽ không thể rời khỏi nơi này". Lý Nam Tinh kinh ngạc: "Ở đây xảy ra chuyện gì?" Trần Quang Chiếu: "Không có gì, nhưng tôi đã phát hiện một số nhân vật khả nghi đến Tây Sơn. Hòa thượng lên núi hái thuốc đã phát hiện vài nhóm, có kẻ là những nhân vật lợi hại trong hắc dạo, có kẻ là đầu lĩnh của bang hội, lại có hai người là đại nội cao thủ, cũng trà trộn trong đám người này. Đây không phải là lúc du xuân, những kẻ này tụ tập ở Tây Sơn, phương trượng không thể không đề phòng".

Lý Nam Tinh giật mình: "Ta đã hiểu, hình như bọn chúng đến tìm ta?"

Trần Quang Chiếu gật gù: "Chắc là bọn chúng có âm mưu, nhưng có đối phó với lão huynh hay không tôi không biết".

Lý Nam Tinh nói: "Đã như thế, tôi sẽ lẳng lặng đi để khỏi liên lụy đến mọi người".

Trần Quang Chiếu xua tay: "Không, không". Chàng ngừng lại hạ giọng thì thầm: "Lý huynh không phải người ngoài nên tôi mới nói. Phương trượng trụ trì chùa này là Không Chiếu đại sư, bí mật qua lại với nghĩa sĩ phản Thanh. Cho nên phương trượng mới để ý đề phòng, không hoàn toàn là do huynh, huynh vừa mới khỏe, nếu đi lúc này thì phương trượng sẽ càng lo hơn".

Lý Nam Tinh hỏi: "Những kẻ này còn trên núi không?"

Trần Quang Chiếu nói: "Sau khi trời tối, hòa thượng trong chùa sợ bọn chúng nghi ngờ cho nên không dám ra ngoài. Cũng chẳng biết bọn chúng đã đi chưa! Nhưng tôi vừa mới xuống núi cũng chẳng gặp ai".

Lý Nam Tinh rất cảm kích: "Trần huynh, vì tôi mà huynh lên núi tìm kiếm, tôi không biết phải đa tạ huynh thế nào". Lòng nhủ thầm: "Đáng tiếc thanh huyền thiết bảo kiếm này là Kim Trục Lưu tặng cho mình, không thể tặng cho người khác được".

Trần Quang Chiếu nói: "Tôi là khách ở đây, khi chùa xảy ra chuyện, tôi không thể rời khỏi nơi này. Cho nên phải ở lại thêm vài ngày nữa điều tra rõ tung tích của bọn người này, nếu biết bình an vô sự tôi mới có thể vào kinh thành tìm Kim Trục Lưu".

Lý Nam Tinh bàn: "Tôi nghĩ mọi người có thể yên tâm, chỉ cần tôi không lộ mặt ở ngoài, bọn người này sẽ không đến quấy nhiễu. Qua Tết Nguyên Tiêu, có lẽ bọn chúng cũng đã rút khỏi nơi này".

Trần Quang Chiếu ngạc nhiên: "Sao huynh biết?"

Lý Nam Tinh trả lời: "Tôi chỉ suy đoán mà thôi. Nếu quan phủ biết được chuyện bổn tự và các nghĩa sĩ kháng Thanh âm thầm qua lại với nhau, bọn chúng đã xua binh bao vây chùa, không cần sử dụng các nhân vật giang hồ đến dò thám. Dò thám trước chẳng phải đã đánh cỏ động rắn hay sao?"

Trần Quang Chiếu gật: "Đúng thế, đến trưa những kẻ này mới lục tục kéo lên núi, nhưng đến giờ vẫn chưa thấy vào chùa bắt người, xem ra không phải là đối phó với chùa Ngọa Phật. Nhưng làm sao huynh biết bọn chúng sẽ rút lui sau đêm Nguyên Tiêu?

Lý Nam Tinh đáp: "Có lẽ bọn chúng đến đây điều tra xem thử có đào phạm ẩn nấp hay không, hoặc có lẽ là vì chuyện khác. Chùa Ngọa Phật là một trong những thánh địa Phật giáo nổi tiếng, là nơi giữ thanh quy giới luật. Bọn chúng không dám nghi ngờ phương trượng che chở cho tôi. Cho nên chỉ cần tôi không lộ mặt trong chùa, chắc là không có gì đáng lo. Mà những kẻ này quá nửa là nhân vật giang hồ, thói quen trong học đạo là không bao giờ dừng lại ở một nơi xa lạ quá ba ngày. Nên dù bọn chúng vì chuyện gì, trong vòng ba ngày nếu không có kết quả thì sẽ rút lui".

Trần Quang Chiếu gật đầu: "Huynh nói rất có lý. Song chúng ta vẫn phải đề phòng, hai ngày nay chúng ta nên ở lại trong chùa, cùng chúng tăng bảo vệ chùa".

Lý Nam Tinh đồng ý: "Đương nhiên, thôi được, vì tôi mà huynh đã mệt nhọc cả ngày, huynh cũng nên ngủ đi thôi".

Lý Nam Tinh thì không ngủ được, số là chàng đoán rằng những kẻ này không phải đối phó với chùa Ngọa Phật, bọn chúng sẽ bỏ đi sau đêm Nguyên Tiêu không phải là suy đoán mà là chàng biết chính xác.

Nửa năm trước, đã có nhân vật đối đầu với chàng, hẹn chàng canh ba đêm Nguyên Tiêu sẽ bí mật gặp gỡ tại núi Tây Sơn.

Lần này Lý Nam Tinh vào kinh, vốn là sẽ đi gặp gỡ kẻ này, nhưng giờ đây chàng đã đổi ý muốn cứu Sử Hồng Anh trước. Chàng định hôm nay sẽ bí mật khắc chữ lên tảng đá ở Bí Ma Nhai trên núi Tây Sơn, hí lộng kẻ ấy một phen rồi bỏ đi.

Nhưng bây giờ chàng không thể nào không đến, một là vì kẻ đối đầu với chàng đến sớm hơn chàng dự liệu, nay đã mời rất nhiều nhân vật giang hồ đến nấp trong núi, hơn nữa chàng chịu ơn cứu mạng của Trần Quang Chiếu và phương trượng chùa này, do đó chàng mới đứng ra chịu trách nhiệm để khỏi liên lụy đến họ. Lý Nam Tinh đã quyết định cho nên chưa thổ lộ với Trần Quang Chiếu.

Hôm sau hòa thượng trên núi hái thuốc vẫn không thấy tung tích của bọn người này, cũng không biết bọn chúng đã đi hay đã nấp lại. Nhưng không có ai tìm đến chùa sinh sự, các nhà sư đã yên tâm mấy phần. Vào ngày Nguyên Tiêu, ban ngày cũng bình yên chẳng có chuyện gì xảy ra. Đến tối trong chùa tuy không theo phong tục trong dân gian, tổ chức mừng Nguyên Tiêu, nhưng cũng làm Phật sự, hai người Trần, Lý là người ngoài không tiện tham gia cho nên ngủ sớm.

Trần Quang Chiếu đang lo trong bụng, tuy nhắm mắt nhưng vẫn chưa ngủ. Khoảng canh ba chợt có tiếng loạt soạt, Lý Nam Tinh hình như bò dậy. Trần Quang Chiếu ngạc nhiên thầm nhủ: "Đêm hôm khuya khoắt, y dậy làm gì?" Đang định lên tiếng, chợt một luồng u hương xông vào mũi, chàng cảm thấy rất thoải mái trong người, mi mắt như muốn sụp xuống, chàng vội vàng cắn đầu lưỡi, lấy ra một viên thuốc cho vào miệng, đó là loại bích linh đơn có thể giải bách độc.

Trần Quang Chiếu giả vờ ngủ nhưng trong lòng vẫn tỉnh táo, phản ứng đầu tiên của chàng là rất bất ngờ, thầm nhủ: "Chả lẽ tên tiểu tử này là gián điệp đến chùa Ngọa Phật? Không xong, võ công của y hơn mình, nếu để y biết mình chưa ngủ thì chỉ e mạng mình khó giữ!"

Trần Quang Chiếu tuy mới xuất đạo chưa quá hai năm nhưng cũng coi như là một người già dặn giang hồ. Chàng cũng biết các loại mê hương thường dùng trong giang hồ. Sau khi nuốt bích linh đơn, chàng lập tức có thể phân biệt được đây là loại mê hương không có độc, nhưng dược tính lợi hại hơn những loại mê hương phổ biến trên giang hồ.

Trần Quang Chiếu thầm nhủ: "Võ công của y hơn hẳn mình, muốn giết mình thì dễ như trở bàn tay. Dù không giết, chỉ cần điểm hôn huyệt của mình thì mình cũng đành bó tay. Y sử dụng mê hương không độc, chắc là giấu mình làm chuyện gì đây! Được, mình tạm thời không lên tiếng xem thử y rốt cuộc muốn là m gì?"

Thật ra dùng mê hương hay điểm vô hôn huyệt cũng có hiệu quả như nhau, nhưng thủ đoạn điểm huyệt là bất kính đối với bằng hữu, vả lại ít nhiều cũng tổn hại đến sức khỏe. Cho nên Trần Quang Chiếu mới nghĩ Lý Nam Tinh không có ác ý với mình.

Thế rồi, Trần Quang Chiếu giả vờ ngủ say, chỉ thấy Lý Nam Tinh bò dậy, đánh đá lửa lên, lấy ra một tờ giấy, vội vàng viết mấy chữ rồi hàng lặng nhảy tọt ra cửa sổ.

Trần Quang Chiếu ngồi dậy, khêu đèn lên xem, chỉ thấy Lý Nam Tinh viết tám chữ "Ngày mai sẽ về, đừng lên tiếng". Xem ra Lý Nam Tinh tuy sử dụng mê hươngnhưng cũng đề phòng chàng chưa sáng thì đã tỉnh dậy cho nên viết mấy chữ.

Trần Quang Chiếu đã nuốt bích linh đơn, lúc này chẳng còn buồn ngủ gì cả vì thế liền theo dõi ngay. Đêm nay là đêm Nguyên Tiêu sáng ngời, Trần Quang Chiếu đứng trên mái nhà, thấy Lý Nam Tinh đã ra khỏi chùa Ngọa Phật, lẩn vào trong rừng.

Chàng ta chợt nhớ lại mấy lời của Lý Nam Tinh, Lý Nam Tinh bảo chỉ cần không công nhiên lộ mặt ở chùa, những kẻ ấy sẽ không xâm phạm đến chùa Ngọa Phật. Nghĩ đến đây, Trần Quang Chiếu chột dạ, đã đoán được mấy phần hành tung bí mật của Lý Nam Tinh, thầm nhủ: "Chả lẽ y muốn lén người gặp những kẻ này?" Lý Nam Tinh đã để lại mấy chữ bảo chàng không lên tiếng, Trần Quang Chiếu suy nghĩ rồi quyết định một mình theo dõi, không báo với phương trượng.

Mẹ của Trần Quang Chiếu là thị nữ của Băng Xuyên Thiên Nữ, có sở trường về khinh công, nên võ công của Trần Quang Chiếu tuy không bằng Lý Nam Tinh nhưng khinh công cũng không kém bao nhiêu. Chàng đi theo sau Lý Nam Tinh, còn Lý Nam Tinh thì một lòng nghĩ đến cuộc hẹn ở Bí Ma Nhai nên không phát giác có người theo dõi.

Bí Ma Nhai nằm ở phía nam núi Tây Sơn, cách chùa Ngọa Phật ở phía bắc khoảng hơn mười dặm. Ở đó vạn tảng thạch lô nhô, không hề có cỏ mọc, là nơi hoang vắng nhất núi Tây Sơn, bình thường thợ săn không tới. Trần Quang Chiếu thấy Lý Nam Tinh cứ đi thẳng tới Bí Ma Nhai, lòng ngạc nhiên, thầm nhủ: "Y đến đó làm gì? Chả lẽ có người nấp ở Bí Ma Nhai? Nhưng sao y lại biết?"

Lý Nam Tinh gia tăng cước bộ, chỉ trong chớp mắt đã lẩn vào trong đống loạn thạch. Trần Quang Chiếu nghỉ chưa dứt, chợt nghe có giọng nói già nua vang lên: "Lệ công tử quả nhiên giữ lời hứa, bội phục, bội phục!"

Trần Quang Chiếu ngỡ ngàng, lòng thầm nhủ: "Ồ, sao bọn họ lại kêu Lý Nam Tinh thành Lệ công tử?, Lý Nam Tinh lớn giọng hỏi: "Bọn ngươi hẹn ta đến đây là muốn gì?"

Giọng nói già nua ấy lại vang lên: "Trước mặt chân nhân không nói dối, Lệ công tử, ngươi đừng giấu giếm thân phận trước mặt bọn ta! Sư tổ của Thiên ma giáo Lệ Thắng Nam có phải là bà cô của ngươi không?"

Lệ Thắng Nam qua đời đã hơn hai mươi năm, nhưng võ công của bà ta nổi tiếng võ lâm, cả chưởng môn đời trước của phái Thiên Sơn là Đường Hiểu Lan cũng từng bại trong tay bà ta, cho nên Trần Quang Chiếu thấy ông già nói ra thân phận của Lý Nam Tinh thì không khỏi thất kinh, thầm nhủ: "Chả trách nào y vẫn còn trẻ mà bản lĩnh ghê gớm đến thế, té ra là người nhà họ Lệ. Ôi chao, Thiên ma giáo là tà giáo đã bị tiêu diệt, nếu đúng như ông già kia nói, y họ chẳng phải là người xuất thân từ tà phái hay sao?"

Lý Nam Tinh ỡm ờ: "Phải thì thế nào? Không phải thì thế nào?"

Ông già cười ha hả: "Lệ công tử đừng đa nghi, chúng tôi không có ác ý, chỉ là muốn mời ngươi đến núi Tồ Lai, dựng lại thanh oai của Thiên ma giáo. Chúng tôi chấp nhận tôn ngươi làm giáo chủ kế nhiệm".

Lý Nam Tinh lạnh lùng: "Ta không muốn làm giáo chủ gì cả, ta cũng không rảnh đến núi Tồ Lai".

Ông già ấy gạt đi: "Lệ công tử đã nói sai rồi, cha của công tử là cháu duy nhất của Lệ tổ sư, mẹ của công tử cũng từng là giáo chủ Thiên ma giáo. Chả lẽ công tử không muốn trùng trấn gia thanh?"

Lý Nam Tinh đáp: "Cha mẹ ta đã rửa tay gác kiếm từ lâu, đừng nhắc đến ba chữ Thiên ma giáo nữa!"

Ông già gằn tiếng: "Lệnh tôn lệnh đường đã rửa tay gác kiếm, công tử có thể nhóm lại lò lửa kia mà? Lệ công tử, không thể bỏ qua cơ hội, có bọn chúng tôi ủng hộ công tử, sợ gì việc lớn không thành?"

Lý Nam Tinh hừ một tiếng: "Các người là cái thá gì, ta không rảnh làm đầu lĩnh của các người!"

Ông già cười ha hả: "Lệ công tử, công tử đừng coi thường người khác. Công tử có biết rằng, năm xưa cha mẹ công tử không dám coi thường chúng tôi hay không?" Lý Nam Tinh sẵng giọng: "Mặc kệ ngươi là ai, ta không muốn nợ ngươi, ngươi muốn thế nào?"

Ông già ấy cười lạnh lẽo: "Tên tên tiểu tử cuồng vọng, nói như thế, ngươi không muốn uống rượu mời mà muốn uống rượu phạt!"

Lý Nam Tinh cũng lớn giọng: "Các người cùng xông lên hay thay phiên nhau? Tùy các người!"

Ông già ấy cười ha hả: "Tên tiểu tử nhà ngươi quả thật không biết trời cao đất dày, dám coi thường lão phu! Hừ hừ! Chỉ cần ngươi đỡ nổi một trăm chiêu của ta, Dương mỗ này sẽ cho ngươi xuống núi, từ rày về sau không đến tìm ngươi nữa, nếu trong vòng một trăm chiêu ngươi thua ta, hừ hừ! Ta cũng không lấy tính mạng của ngươi, ngươi chỉ cần đi theo ta, được chưa?"

Lúc này tình thế giữa hai bên đã như kiếm rút cung căng, Trần Quang Chiếu thầm nhủ: "Mặc cho Lý Nam Tinh xuất thân như thế nào, mình cũng đã là bằng hữu của y, không thể để cho bằng hữu thiệt thòi. Nếu đối phương đơn đả độc đấu thì thôi,nếu quần đấu thì Trần Quang Chiếu này dù mất mạng cũng giúp y!" Trần Quang Chiếu đã thấy võ công của Lý Nam Tinh, tuy không biết ông già là ai, nhưng đoán rằng công phu của Lý Nam Tinh có thể đối phó với một ông già khí lực đã suy, không thể nào thua trong vòng một trăm chiêu. Cho nên Trần Quang Chiếu quyết định không lộ mặt, xem thử thế nào rồi tính tiếp.

Nghĩ chưa đứt, chợt tiếng gió nổi lên, có hai bóng đen nhảy về phía Trần QuangChiếu, đồng thanh quát: "Bằng hữu phương nào?" Lúc này Trần Quang Chiếu đành lộ mặt.

Hai hán tử ấy thấy Trần Quang Chiếu lạ mặt, lập tức nhảy bổ tới tấn công. Lý Nam Tinh kêu: "Trần huynh, chuyện này không liên quan đến huynh, huynh hãy trở về thôi!" Rồi quay sang ông già tiếp: "Người này là bằng hữu của tôi, nhưng y không biết chuyện chúng ta gặp nhau. Hãy bảo bọn chúng ngừng tay?"

Ông già lạnh lùng: "Ta không thể tin lời ngươi, ta cũng không để cho y dễ dàng quay về. Trước tiên ta sẽ bắt y hỏi cho rõ ràng rồi mới định đoạt".

Trần Quang Chiếu nhờ thân pháp linh hoạt, né tránh đòn tấn công của hai người này, nhưng hai người này cũng chẳng phải là hạng kém cỏi, một người sử dụng đôi phán quan bút, một người sử dụng cây tiểu hoa thương, chiêu nào cũng đánh vào huyệt đạo của Trần Quang Chiếu. Trần Quang Chiếu nổi giận, quát: "Ta đã nhường các ngươi mấy chiêu, ngươi tưởng rằng ta dễ bắt nạt ư?" Rồi rút soạt thanh kiếm ra khỏi bao lập tức trả đòn.

Bản lĩnh thật sự của Trần Quang Chiếu chưa chắc hơn hai hán tử này, nhưng thanh kiếm của chàng là một món báu vật. Mẹ của chàng là thị nữ của Băng xuyên Thiên Nữ, năm xưa Băng Xuyên Thiên Nữ lấy hàn ngọc ngàn năm trong hố băng luyện thành một cây băng phách hàn quang kiếm, số ngọc còn lại thì luyện thành bốn thanh bảo kiếm, chia cho bốn thị nữ, mẹ của Trần Quang Chiếu được chia cho một cây. Cây kiếm này tuy không bằng băng phách hàn quang kiếm, nhưng kiếm vừa rút ra khỏi bao có thể khiến cho đối phương cảm nhận được luồng khí lạnh buốt tỏa ra.

Trần Quang Chiếu rút kiếm ra khỏi bao, hai hán tử này đều rùng mình, trong lòng kinh hãi vội vàng thối lui. Một người sử dụng khinh công Đảo thái thất tinh vọt người ra sau, chân chưa hạ xuống đất thì chợt cảm thấy đầu gối tê rần, thế là ngã quị xuống. Té ra người ấy bị khí lạnh xâm nhập, huyết lưu ngừng trệ, tay chân đều lạnh ngắt đến cứng đờ, đương nhiên không thể thi triển khinh công như bình thường. Những tên hán tử đứng gần đó đều tưởng rằng y bị trúng ám khí.

"Hảo tiểu tử, ngươi dám ám toán!" Y vừa quát ra thì đã phóng năm ngón ám khí về phía Trần Quang Chiếu.

Trần Quang Chiếu cười lạnh lùng: "Bọn cường đạo đui mắt, ai phóng ám khí? Các người đã vu oan cho ta, cũng được, ta sẽ cho các người coi ám khí của ta!" Rồi bốc ra một nắm Băng phách thần đạn, vung tay ném về phía bọn cường đạo.

Băng phách thần đạn là loại ám khí kì lạ nhất trong thiên hạ, các loại ám khí khác thì trúng vào người mới có tác dụng, nhưng chỉ có loại Băng phách thần đạn này khống chế đối phương bằng loại khí hàn âm của nó. Trần Quang Chiếu vừa ném Băng phách thần đạn ra, những kẻ này không biết lai lịch của ám khí, có người né tránh, có người dùng binh khí đánh bạt ra, những kẻ né tránh thì còn đỡ hơn, những kẻ dùng binh khí thì vừa chạm vào băng đạn đã tan ra, hóa thành một luồng khí lạnh lẽo xâm nhập vào xương cốt, máu huyết hầu như bị ngưng tụ! Còn kẻ bị bặng đạn bắn vào huyệt đạo thì càng thê thảm hơn, y té sầm xuống đất run lẩy bẩy, tựa như phát bệnh sốt.

Vài hán tử vẫn chưa ngã thì lạnh đến nỗi răng đánh vào nhau lập cập, chạy ngược trở lại, miệng cứ kêu lên oai oái: "Ôi... Ôi chao! Tên tiểu tử này... biết... biết yêu pháp!" Trần Quang Chiếu đánh lùi bọn hán tử ấy, chuẩn bị dùng băng đạn và bảo kiếm giúp Lý Nam Tinh.

Lý Nam Tinh vốn muốn chạy ra giúp cho Trần Quang Chiếu, lúc này thấy chàng ta vung Băng phách thần đạn, đánh lùi bọn đang vây công mình, bất đồ vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, chàng bật cười ha hả.

Ông già ấy sầm mặt, cười lạnh lùng: "Chẳng có gì đáng sợ, đồ nhi, các người hãy bắt tên tiểu tử này lại cho ta?" Một hán tử mặt có vẻ bệnh hoạn, người cao ốm bước ra nói lớn: "Đệ tử tuân lệnh!" Người lập tức nhảy về phía Trần Quang Chiếu.

Trần Quang Chiếu thấy y lao đến hung dữ như thế, biết rằng đây là một kẻ kình địch, nên không đợi đối phương ra tay đã phóng ra ba viên Băng phách thần đạn.

Hán tử này chẳng hề lộ chút tình cảm trên khuôn mặt, bao nhiêu Băng phách thần đạn bay tới trước mặt y, chỉ thấy y gạt nhẹ qua rồi lạnh lùng nói: "Ta tưởng là thử gì, té ra chẳng qua là loại băng đạn của Băng Xuyên Thiên Nữ. Hừ, Băng phách thần đạn có thể làm gì được ta?" Ba viên Băng phách thần đạn rơi vào trong tay y, chỉ thấy y mở bàn tay ra, ba viên băng đạn đã tan ra thành nước!

Băng phách thần đạn gặp phải những người có nội công cao cường, không làm gì được đối phương cũng chẳng có điều gì lạ. Nhưng điều kỳ lạ là thân phận của hán tử này chẳng qua là đồ đệ của ông già, nhưng lại có thể dám tiếp băng đạn, điều đó khiến cho Trần Quang Chiếu ngạc nhiên.

Trần Quang Chiếu đương nhiên cả kinh, nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, hán tử ấy đã vỗ một chưởng về phía chàng.

Trần Quang Chiếu lướt người, trở tay đánh ra một kiếm. Kẻ địch đang lao tới, chiêu này là lối đánh lấy công làm thủ, kiếm thế linh hoạt phiêu hốt, là một chiêu số cực kỳ tinh diệu trong Băng xuyên kiếm pháp.

Trần Quang Chiếu tưởng rằng đối phương sẽ thối lui, nếu không sẽ trúng kiếm.

Nào ngờ đối phương chẳng lùi cũng chẳng né, chỉ nghe keng một tiếng, hán tử trông bệnh hoạn ấy hóa chưởng thành chỉ, búng nhẹ một cái đã đánh bật thanh hàn ngọc kiếm của Trần Quang Chiếu ra.

Thanh hàn ngọc kiếm không lợi hại ở mũi kiếm mà là ở luồng khí âm hàn tỏa ra từ kiếm. Trần Quang Chiếu thầm nhủ: "Gã này đã tiếp Băng phách thần đạn của mình, nay lại có thể chạm vào hàn ngọc kiếm của mình, như thế e y sẽ không thể chịu nổi, trừ phi y chẳng là thân máu thịt". Nào ngờ chưa nghe xong thì chợt cảm thấy một luồng khí lạnh từ chuôi kiếm truyền vào lòng bàn tay mình. Hán tử ấy vẫn không hề run rẩy mà Trần Quang Chiếu lại cảm thấy lạnh đến khó chịu, bất đồ rùng mình.

Trần Quang Chiếu vốn luyện Thiếu dương nội công tâm pháp, đó là loại thần công hộ thể mà Băng Xuyên Thiên Nữ truyền cho mẹ chàng, ai luyện loại thần công hộ thể này mới có thể dùng hàn ngọc kiếm và băng đạn. Nay hán tử ấy chỉ búng nhẹ một cái mà đã đánh bật được thanh hàn ngọc kiếm của chàng, chuôi kiếm chợt trở nên lạnh lẽo, cả bản thân chàng cũng cảm thấy khó chịu. Đó là chuyện chưa từng xảy ra bao giờ?

Hán tử ấy buông giọng cười: "Hàn ngọc kiếm chẳng qua chỉ có thế mà thôi, ngươi còn có bản lĩnh gì nữa? Hừ hừ, ngươi chẳng xứng dùng thanh kiếm này, chi bằng cứ cho ta đi thôi!" Miệng thì nói, chưởng vẫn đánh tới không ngừng, khi nói chuyện đã liên tục sử dụng ba chiêu Không thủ nhập bạch nhẫn, rõ ràng là muốn cướp thanh hàn ngọc kiếm của Trần Quang Chiếu.

Trần Quang Chiếu thấy hàn ngọc kiếm chẳng làm gì được đối phương, trong lòng kinh hãi không dám tiếp sức, chỉ nhờ vào khinh công tránh đông né tây. Lúc này bảo kiếm cũng đã thành phế vật, trong nhất thời chàng không biết nên ứng phó thế nào.

Trần Quang Chiếu càng lúc càng nguy ngập, trong lúc kịch chiến hán tử ấy đánh ra một chiêu Loan cung xạ điêu, chưởng chỉ đều sử dụng, Trần Quang Chiếu không còn đường thối lui, đành đẩy một chưởng về phía đối phương.

Hai chưởng giao nhau, bình một tiếng, hán tử ấy thối lùi ba bước, Trần Quang Chiếu cũng lắc lư người. Luận về chưởng lực thì hai bên không hơn kém nhau bao nhiêu. Nhưng Trần Quang Chiếu cảm thấy ngạc nhiên, bất đồ vừa mừng vừa lo!

Té ra Trần Quang Chiếu tưởng rằng đối phương không sợ ngọc kiếm và băng đạn của mình, chắc hẳn nội công rất thâm hậu, nay thử mới biết chưởng lực của đối phương tuy không kém nhưng cũng chỉ như thế mà thôi.

Song chưởng lực của đối phương tuy không hơn chàng, nhưng Trần Quang Chiếu tiếp xong chưởng ấy thì người cảm thấy lạnh lẽo, tựa như rơi vào hố băng.

Hán tử ấy cười ha hả: "Ngươi cũng cảm thấy khó chịu. Hì hì, đó gọi là lấy gậy ông đập lưng ông, ngươi hãy chờ xem còn có trò hay nữa?"

Chính là: Đạn băng kiếm báu tiêu âm sát, hiệp sĩ ma đầu lại gặp nhau. 
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ